Giỗ Tổ Hùng Vương, tìm về nguồn gốc “Con Rồng cháu Tiên” của dân tộc Việt

Giỗ Tổ Hùng Vương, tìm về nguồn gốc “Con Rồng cháu Tiên” của dân tộc Việt

Postby hat@ » Sat Apr 08, 2017 2:27 pm

Giỗ Tổ Hùng Vương, tìm về nguồn gốc “Con Rồng cháu Tiên” của dân tộc Việt

Cứ đến ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm, người dân lại nô nức về lại Đền Hùng để tưởng nhớ tổ tiên đất Việt. Tương truyền nơi đây người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Vậy vì sao xưa nay người ta vẫn thường quen nói, nguồn gốc tổ tiên của dân tộc Việt là “Con Rồng cháu Tiên”? Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm về nguồn cội này.
​​
Image

Tương truyền, người con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. (Tranh minh họa từ Internet)

“Con Rồng cháu Tiên” không chỉ là một câu nói hình tượng

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi chép:

“Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khí hóa ra, đó là dòng dõi Bàn Cổ. Có khí hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai khí âm dương cả. Kinh Dịch nói: ‘Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh’. Cho nên có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi. Nhưng thánh hiền sinh ra, tất có khác thường, đó là do mệnh trời.

Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra nhà Thương, giẫm vết chân người khổng lồ mà dấy nhà Chu, đều là ghi sự thực như thế. Con cháu dòng dõi Thần Nông là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái gốc đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?”.


Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái của tác giả Trần Thế Pháp, một danh sĩ đời nhà Trần ghi chép lại, ông nội của Lạc Long Quân tên là Đế Minh, là cháu 3 đời của Viêm Đế (Thần Nông). Đế Minh sinh ra con cả Đế Nghi, rồi nam tuần đến núi Ngũ Lĩnh, gặp được nàng tiên nữ tên Vụ Tiên đem lòng thương yêu rồi cưới về, sinh ra được Lộc Tục có dung mạo đoan chính, thông minh.

Đế Minh kinh ngạc trước sự đoan chính, thông minh và tài trí của Lộc Tục, muốn Lộc Tục nối ngôi vua, nhưng Lộc Tục lại nhường cho anh. Đế Minh lập Đế Nghi cai trị phương Bắc (một phần Trung cộng hiện giờ), phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị Phương Nam (đất Việt hiện nay), đặt quốc hiệu là Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương xuống Thủy Phủ, cưới con gái vua Động Đình tên là Long Nữ, sau đó sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân.

Trong nhận thức và sự quan sát vạn vật của người thời xưa, Thủy Phủ song hành cùng Thiên Phủ và Địa Phủ, là các cõi không gian tồn tại đồng thời với không gian con người.

Như vậy theo những ghi chép này cũng như những sự tích được lưu truyền trong dân gian, ông ngoại của Lạc Long Quân vốn là một vị Long Vương cai quản hồ Động Đình, còn bà nội của Lạc Long Quân là một nàng tiên giáng trần.

Và nguồn gốc “Tiên”, “Rồng” của người dân Việt cũng chính bắt nguồn từ đó.

Hồ Động Đình (hồ lớn nằm ở đông bắc tỉnh Hồ Nam, Trung cộng hiện nay), là một hồ lớn nhất thời bấy giờ ở Trung Hoa và đất Việt nước ta. Sau Lạc Long Quân đổi tên nước thành Văn Lang, có biên giới phía Bắc giáp hồ Động Đình.

Image

Vẻ đẹp thủy mặc của Hồ Động Đình – nơi quê xưa chốn cũ của dòng dõi Lạc Hồng. (Ảnh: Báo mới)

Tại Việt Nam trên đất An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày nay, cũng có một ngôi đền thờ “Vua Cha Bát Hải Động Đình”, xưa là Hoa Đào Trang Chính Sơn Nam, sau gọi là Trang Đào Động. Đây chính là ngôi đền đã tồn tại gần 4.000 năm (từ thời Vua Hùng) trên đất Thái Bình.

Lạc Long Quân và Âu Cơ dựng lập đất Việt

Theo ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái, Lạc Long Quân thay cha trị nước. Lạc Long Quân dạy dân cách ăn mặc, bắt đầu có trật tự về Quân Thần, tôn ty, có luân thường về phụ tử (cha con), phu phụ (chồng vợ). Lạc Long Quân thường vẫn đi về Thủy Phủ, nhưng trăm họ vẫn yên ổn.

Image

Đền thờ chính thờ Lạc Long Quân, tại Đồi Sim, nằm trong quần thể di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ). (Ảnh: Panoramio)

Dân lúc nào có việc cần thì kêu Lạc Long Quân: “Cha đi đằng nào, không đến cứu chúng con”, thì Lạc Long Quân lập tức xuất hiện ngay, uy linh cảm ứng không ai có thể trấn lượng được. Những thần thông và năng lực phi phàm của Lạc Long Quân được mô tả rất giản dị, tự nhiên trong ghi chép của Lĩnh Nam Chích Quái.

Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc. Một ngày, Đế Lai cùng con gái là Âu Cơ và bộ chúng thị thiếp nam tuần qua Xích Quỷ, thấy Lạc Long Quân đã về Thủy Phủ, trong nước không có vua, bèn cùng mọi người lưu lại nơi này. Đế Lai chu du khắp thiên hạ, thấy biết bao kỳ hoa, dị thảo, trân cầm, dị thú, tê tượng đồi mồi, kim ngân, châu ngọc, hồ tiêu, nhũ hương, trầm đàn, các loại sơn hào hải vị, không thứ nào không có. Khí hậu bốn mùa lại dễ chịu, Đế Lai lưu lại quên cả ngày về.

Nhân dân nước Nam não khổ vì sự phiền nhiễu, không được yên ổn như xưa, đêm ngày mong đợi Lạc Long Quân về, nên mới cùng nhau kêu: “Cha ở phương nào, mau về cứu con dân”.

Lạc Long Quân nghe thấy tiếng kêu liền lập tức xuất hiện. Trông thấy nàng Âu Cơ dung mạo đẹp lạ lùng, mới hóa thành một chàng trai phong tú mỹ lệ, tiếng đàn ca vang tới. Âu Cơ trông thấy mà lòng cũng ưng theo, Lạc Long Quân bèn rước nàng về núi Long Trang.

Image

Đế Lai sau khi tìm không thấy Âu Cơ bèn sai quân thần đi tìm khắp thiên hạ. Lạc Long Quân có thần thuật, biến hiện trăm cách, nào là yêu tinh quỷ mị, nào là long xà hổ tượng (rồng rắn hổ voi), quần thần được sai đi tìm không cách nào tìm được. Đế Lai đành trở về.

Bọc trăm trứng và cuộc phân ly

Âu Cơ ở với Lạc Long Quân giáp một năm, sinh ra một bọc trứng, cho là điềm không hay nên đem bỏ ra ngoài. Hơn bảy ngày sau, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, bèn đem về nuôi nấng, không cho ăn không cho bú mà tự nhiên cao lớn, trí dũng song toàn, ai cũng ngưỡng mộ.

Lạc Long Quân ở dưới Thủy Phủ, mẹ con Âu Cơ ở một mình, nhớ về Bắc quốc bèn đi lên biên giới. Vua đất Bắc lúc bấy giờ tên Hoàng Đế, nghe tin lấy làm sợ mới phân binh trấn ngự quan ải, mẹ con Âu Cơ không về được, đêm ngày gọi Lạc Long Quân: “Cha ở phương nào làm cho mẹ con ta thương nhớ!”.

Lạc Long Quân đột nhiên lại xuất hiện, gặp mẹ con ở Tương Dã, Âu Cơ nói:

“Thiếp vốn người đất Bắc, cùng ở một nơi với chàng, sinh ra được một trăm con trai mà không có gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng không vợ, một mình vò võ…”.

Lạc Long Quân
nói:

Ta là loài rồng, sinh trưởng ở Thủy tộc, nàng là giống Tiên, người ở trên Đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp lại mà có con, nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi con trai về thủy phủ phân trị các xứ, năm mươi con trai theo nàng ở trên Đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau”.

Image

50 con trai theo Lạc Long Quân về Thủy Phủ, 50 con trai theo Âu Cơ về lại trên Đất. (Tranh minh họa từ Internet)

Phân chia bờ cõi và dựng lập đất nước

Trăm trai đều theo mệnh, rồi mới từ giã ra đi. Âu Cơ cùng năm mươi người con ở lại Phong Châu (bây giờ là huyện Bạch Hạc), tự suy tôn người Hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang. Về bờ cõi của nước thì Đông giáp Nam Hải (Biển Đông), Tây đến Ba Thục, Bắc đến Động Đình Hồ, Nam đến Hồ Tôn Tinh (nước Chiêm Thành), chia trong nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Trường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quân, sai các em phân trị, đặt em thứ làm tướng võ, tướng văn. Tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng Võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương.

Dân khi ấy ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm, lấy rễ gừng làm muối. Đất nương khi ấy trồng nhiều gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm, gác cây làm nhà để tránh hổ và lang sói, cắt ngắn đầu tóc để tiện vào rừng núi. Con đẻ ra lót lá chuối cho nằm, nhà có người chết thì giã gạo để hàng xóm nghe mà chạy đến cứu giúp, trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, vì thời đó chưa có sự tích trầu cau.

*****

Người Việt Nam từ xưa nay vẫn luôn tự hào nói rằng mình là “con Rồng cháu Tiên”. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết nguồn gốc của câu nói này cũng như nguồn cội cao quý của bản thân mình. Nhất là ngày nay, thời đại mà thuyết vô Thần tràn ngập, đầu độc tâm trí người ta, thì câu nói đó lại càng trở nên bị quên lãng.

Tuy nhiên, với những ghi chép và câu chuyện lưu truyền trong dân gian, có thể khẳng định rằng, “Con Rồng cháu Tiên” không chỉ là một câu nói hình tượng. Đây là câu nói khiến mỗi người dân đất Việt chúng ta tự hào về nguồn cội cao quý của mình.

Bảo An tổng hợp

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Sat Apr 08, 2017 2:32 pm), Duyên Chi(Sat Apr 08, 2017 2:47 pm), lachong(Sat Apr 08, 2017 11:32 pm), Ngô Đồng(Sun Apr 09, 2017 3:05 am)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16613
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28709 times
Have thanks: 52476 times

Giỗ Tổ Hùng Vương không thể không nhắc đến biểu tượng Đền Hùng

Postby hat@ » Sun Apr 09, 2017 1:49 pm

​​​​​​
Giỗ Tổ Hùng Vương không thể không nhắc đến biểu tượng Đền Hùng

Theo truyền thuyết dân gian, Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Bởi vậy, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt, và Đền Hùng trở thành biểu tượng thiêng liêng nơi đất Việt.
​​
​​
Image

Cổng vào Trung tâm lễ hội Khu Di tích lịch sử Đền Hùng, Phú Thọ. (Ảnh: phutho.gov.vn)

Không giống với các lễ hội truyền thống của một số quốc gia hay vùng lãnh thổ trên thế giới, càng khác hẳn với những cuộc hành hương của người Hồi giáo, người Thiên Chúa Giáo về miền đất Thánh, người Việt Nam cũng có cuộc hành hương nhưng là hành hương về nơi cội nguồn dân tộc để dâng hương giỗ Tổ Hùng Vương – Người có công khai sinh ra nước Việt.

Để ghi nhớ công ơn của các Vua Hùng có công khai thiên, lập địa, vua Lê Thánh Tông năm 1470 và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, chọn ngày 11 và 12/3 Âm lịch làm ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Đến thời nhà Nguyễn – năm Khải Định thứ 2 chính thức chọn ngày 10/3 Âm lịch làm ngày giỗ Tổ Hùng Vương để tưởng nhớ các Vua Hùng và nhắc nhở mọi người Việt Nam cùng tưởng nhớ thờ cúng Tổ tiên.

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương từ lâu đã được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam. Từ thời xưa, các triều đại Việt Nam đã chú trọng việc quản lý Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, Việt Trì, Phú Thọ. Người dân địa phương phụ trách việc trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm giỗ tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, đổi lại họ được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng cùng sưu dịch và sung vào lính.

​​
Image

Cổng chính đền Hùng. (Ảnh: Mytour)

Ở Việt Nam, dấu tích về thời kỳ dựng nước đầu tiên còn in đậm ở khắp mọi miền đất nước, trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người con Hồng – Lạc. Nhưng có thể nói, các chứng tích về thời Hùng Vương đậm đặc nhất chính là ở vùng đất Phú Thọ, đất cội nguồn dân tộc, nơi khai thiên lập quốc thời các Vua Hùng.

Nếu làm một cuộc hành hương dọc theo các triền sông, đi ngược sông Hồng lên chiến khu Hiền Lương sẽ thấy đền thờ bà Âu Cơ, nơi bà đem 50 người con đi mở đất khai hoang; đi dọc sông Đà lên thượng nguồn, chúng ta sẽ gặp đền Lăng Xương, nơi bà Âu Cơ về thăm quê ra sông hái đậu, đi dọc sông Lô ta sẽ đến đền Lâu Thượng, tương truyền là đất trồng trầu của Vua Hùng.

Đền Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên đỉnh núi Vặn (Tên mỹ là tự là núi Ốc Sơn), thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, có độ cao 170,2m so với mặt biển, nằm trong hệ thống “Tam sơn cấm địa” là núi Hùng, núi Trọc, núi Vặn.

​​
Image

Cổng vào đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ. (Ảnh: Mytour)

Vùng Kim Đức là nơi Vua Hùng đi săn nghỉ trưa; Minh Nông, Minh Khai là nơi vua Hùng dạy dân trồng lúa, là kho chứa thóc của nhà vua. Đỉnh núi Nghĩa Lĩnh (Đền Hùng) là nơi Vua Hùng cầu trời cho Thánh Gióng xuống giúp đánh tan giặc Ân xâm lược…

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bằng chứng của người Việt cổ sống trên đất Phú Thọ cách ngày nay hơn một vạn năm ở văn hóa Sơn Vi (Lâm Thao). Những làng cổ đại cách đây từ 4.000 – 3.000 năm liên tục qua các di chỉ: Phùng Nguyên (Kinh Kệ, Lâm Thao); Gò Mun (Tứ Xã – Lâm Thao); Làng Cả (Tiên Cát – TP Việt Trì); Gò De (Thanh Đình – Việt Trì)…

Nhiều hiện vật độc đáo được tìm thấy trong các di chỉ này như: Vuốt đồng; bộ khóa đai lưng có 8 con rùa; bộ qua đá… Đó là những hiện vật tiêu biểu của những thủ lĩnh dùng để thể hiện vai trò và vị trí của mình trước bộ tộc và bộ lạc. Có lẽ, những di vật đó đã được nâng cao thành cân đai, ấn kiếm của các vua chúa sau này?

Ngay trên núi Hùng đã tìm thấy 18 di vật có niên đại cách ngày nay trên dưới 4.000 năm. Năm 1990, tại khu vực Đền Hùng đã tìm thấy một chiếc trống đồng loại H1, nhóm III, có đường kính lớn nhất Việt Nam.

​​
Image

Nơi đất tổ gắn liền với câu chuyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng. (Ảnh: khoahocnet)

Trên vùng đất Tổ ngày nay còn hàng trăm những câu chuyện truyền thuyết và thần thoại về thời các Vua Hùng, kể về những sự việc như: Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, việc Vua Hùng chọn đất đóng đô, cầu tướng tài đánh giặc cứu nước, cầu mưa nắng, chọn người kế nghiệp, dạy dân cày cấy, trồng lúa, làm bánh, nấu mật, ca hát giao duyên… có thể nói, đi trên đất Phú Thọ, nghe kể chuyện thời các Vua Hùng, xem các di vật khảo cổ, dự các lễ hội dân gian… có thể hình dung được cuộc sống, lao động, sản xuất, vui chơi, ca hát và những phong tục của ông cha thời dựng nước.

Những dấu tích về việc thờ cúng thời Hùng Vương hiện nay còn được bảo lưu rõ nét ngay tại Đền Hùng. Trên đỉnh núi Hùng là nơi thờ thần núi, thờ phồn thực, sinh thực khí. Hòn đá cối xay tại núi Trọc lớn, cột đá tại Đền Thượng là di vật còn lại của những nghi thức cúng tế ấy. Ba ngọn núi: Đột Ngột Cao Sơn (ở giữa); Ất Sơn (bên phải); Viễn Sơn (bên trái), đó là tên ba quả núi cấm hiện gắn với 3 bài vị thờ tại các đền trên núi Hùng.

Dưới thời quốc gia độc lập tự chủ, từ thời Ngô, Đinh, tiền Lê các triều đại cho viết thần tích, ban sắc phong. Hiện ở Đền Hùng còn bản Ngọc phả Hùng Vương được viết vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470) và sao lại vào năm Hoằng Định nguyên niên (1600), trong đó ghi rõ:… “Hoằng triều ta chuẩn chi cung điện, miếu và lăng đăng cai là làng Trung Nghĩa được miễn tô thuế, tạp dịch để phụng thờ theo lệ cũ để dài lâu quốc mạch, lưu thơm muôn đời, thịnh cường mãi…”.

Đó là thời kỳ đầu tiên nhà nước đứng ra quy định chế độ cho việc thờ cúng các Vua Hùng được ghi lại trong sử cổ. Từ đó, theo quy định làng thờ Vua Hùng được phong là trưởng tạo lệ – một chức như chức quan, nhưng chỉ riêng nơi thờ các Vua Hùng ở Đền Hùng mới có. Hàng năm được về triêu đình lĩnh 3 đấu gạo và 1 quan tiền, cùng với hoa lộc ở ruộng đất công do triều đình ban để làm lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.

Thời nhà Nguyễn, khi dựng điện Thái Hòa ở kinh thành Huế đã cho treo ngay phía trên ngai vàng của nhà vua bài thơ về Đền Hùng:

Văn hiến nước nghìn năm
Vạn dặm chung một thế
Từ Hồng Bàng mở nước
Nghiêu Thuấn một trời Nam.

Và cho rước tinh linh (bài vị) của các Vua Hùng về Miếu Lịch Đại Đế Vương (Huế) để thờ. Triều đình chuẩn y cho phép vào bộ Khâm định Việt Sử thông giám cương mục mở đầu từ thời đại Hùng Vương. Hàng năm, triều đình liên tục cấp tiền để tu bổ, xây dựng đền thờ và Lăng mộ Hùng Vương ở Đền Hùng và cử các quan đại thần về giám sát. Quy định Xuân, Thu nhị kỳ hàng năm mở hội làm lễ tế.

Cùng với triều đình, nhân dân khắp nơi trong cả nước đã lập đền thờ Hùng Vương, về Đền Hùng sao chép thần tích, ngọc phả đem về thờ ở địa phương mình. Thời nhà Nguyễn, đã thống kê có hơn 1.000 làng xã lập đền thờ với khoảng 1.600 di tích thờ Hùng Vương và vợ con tướng lĩnh của vua.

Năm 2005, Bộ Văn hóa thông tin đã thống kê trong cả nước hiện nay còn 1.417 di tích thờ Hùng Vương và vợ con tướng lĩnh. Ở nước ngoài, cộng đồng người Việt nhiều nơi cũng đã lập đền thờ Hùng Vương. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành ngày hội lớn ở khắp mọi miền đất nước, ngày hội tâm linh trong lòng mỗi người dân Việt Nam dù ở bất cứ đâu, theo bất cứ tôn giáo nào. Hướng về cội nguồn, tri ân công đức tổ tiên! Mỗi người con đất Việt mang trong mình dòng máu Lạc Hồng luôn tự nhủ và mong ước làm gì để xứng đáng với Tổ tiên, với công lao của các Vua Hùng.

Vào ngày 6/12/2012, việc giỗ tổ Hùng Vương đã được cả thế giới biết đến khi UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là một Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngày giỗ tổ Hùng Vương 10/3 không chỉ thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn mà còn là niềm tự hào của người Việt trước bạn bè quốc tế.

TinhHoa tổng hợp

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Sun Apr 09, 2017 6:51 pm), Duyên Chi(Sun Apr 09, 2017 2:11 pm), lachong(Mon Apr 10, 2017 2:27 am), Ngô Đồng(Sun Apr 09, 2017 2:30 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16613
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28709 times
Have thanks: 52476 times


Return to Phong Tục Tập Quán

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest

cron