Ca dao Tục Ngữ về Tết

Ca dao Tục Ngữ về Tết

Postby DIEU DUC » Thu Jan 23, 2014 3:09 am

Ngày Xuân nói chuyện dông dài ... lục bát ca dao xem ra dễ nói dễ bàn hơn tất cả.
D Đ sưu tầm một số vần điệu ca dao, mời cả nhà cùng ngâm nga .

Image

Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về.
*
Anh Hai anh tính đi mô
Tôi đi chợ Tết mua khô cá thiều.
*
Con ơi! ham học chớ đùa
Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.
*
Cú kêu ba tiếng cứ kêu
Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè
Dựng nêu thì dựng đầu hè
Để sân gieo cải, vãi mè ăn chung.
*
Dầu bông bưởi dầu bông lài
Xức vô tới Tết còn hoài mùi thơm.

Image


Cu kêu ba tiếng cu kêu,
Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè.

Dựng nêu thì dựng đầu hè
Để sân gieo cải, vãi mè ăn chung


Con ơi ham học chớ đùa
Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo


Anh Hai anh tính đi mô
Tôi đi chợ Tết mua khô cá thiều

Tháng giêng ăn tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè.
Tháng tư đong đậu nấu chè
Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm.
Tháng sáu buôn nhãn bán trăm
Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân.
Tháng tám chơi đèn kéo quân
Trở về tháng chín, chung chân buôn hồng.
Tháng mười buôn thóc, bán bông
Mười một, tháng chạp nên công hoàn thành.


Image


Tết đến sau lưng
Ông vải thì mừng, con cháu thì lo


Có hay không mùa đông mới biết
Giầu nghèo ba mươi Tết mới hay

Số cô chẳng giàu thì nghèo
Ngày ba mươi Tết có thịt treo trong nhà


Một năm chia mười hai kỳ
Thiếp ngồi thiếp tính làm gì chẳng ra
Tháng giêng ăn tết ở nhà
Tháng hai rõi rãi quay ra nuôi tằm.
Tháng ba đi bán vải thâm
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về.
Tháng sáu em đi buôn chè
Tháng bảy tháng tám trở về đong ngô.
Chín mười cắt rạ đồng mùa
Một chạp vớ được anh đồ dài lưng.
Anh ăn, rồi anh lại nằm.
Làm cho thiếp phải quanh năm lo phiền.
Chẳng thà lấy chú lực điền
Gạo bồ thóc đống, còn phiền nõi chi!


Chiều ba mươi anh không đi Tết
Rạng ngày mồng một, anh không đi đến lạy bàn thờ
Hiếu trung mô nữa mà bảo em chờ uổng công
Hôm ba mươi anh mắc lo việc họ
Sáng mồng một anh bận việc làng
Ông bà bên anh cũng bỏ, huống chi bên nàng, nàng ơi!

Image


Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng (ruộng) sâu chưa về
Bắt được một lũ cá trê
Xách cổ lôi về, nấu cháo ngủ ăn!
Ngủ ăn không hết, để dành đến Tết
Mèo già tha hết, mèo ốm phải đòn
Mèo con phải vạ, con quạ đứt đuôi
Con ruồi đứt cánh, đòn gánh có mấu
Củ ấu có sừng, bánh chưng có lá
Con cá có vẩy, ông thầy có sách
Đào cạch cần dao, thợ rào có búa
Xay lúa có chàng, việc làng có mõ
Cắt cỏ có liềm, câu liêm có lưỡi
Cây bưởi có hoa, cây cà có trái
Con gái có chồng, đàn ông có vợ.
Kẻ chợ có vua, trên chùa có bụt!
Cái bút có ngòi, con voi có quản….


Cái con chim chích
Nó rích cành chanh
Tôi lấy mảnh sành
Tôi vanh nó chết
Gặp ba ngày Tết
Làm ba mâm đầy
Ông thầy ăn một
Bà Cốt ăn hai
Cái thủ cái tai
Đưa lên biếu chú
Chú hỏi thịt gì
Thịt con chim chích
Nó rích cành chanh…


Đỏ đỏ đen đen năm ba ngày tết
Mặn lạt sáu bảy ngày xuân
Dầu năm bảy nơi đến nói em hỏng có ưng
Thà em ở vậy, cầm chừng đợi anh


Tới đây viếng cảnh, thăm hoa
Mừng cho nam nữ chơi Xuân hội nầy
Một mai đàn có bén dây
Ơn dân vạn bội biết ngày nào quên!


For this message the author DIEU DUC has received thanks:
Ngô Đồng(Fri Jan 24, 2014 5:26 pm)
Rating:6.25%
 
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Ca dao Tục Ngữ về Tết

Postby Duyên Chi » Fri Jan 24, 2014 5:57 am

Image

Tới đây viếng cảnh, thăm hoa
Trước mừng các cố, sau là mừng dân.
Sau nữa mừng cả làng tuần
Mừng cho nam nữ chơi Xuân hội nầy
Một mai đàn có bén dây
Ơn dân vạn bội biết ngày nào quên!

Image

- Nhớ xưa trả nợ ba đời
Chiều ba mươi Tết mẹ ngồi nhìn con
Gánh cực mà đổ lên non
Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo
Chừ đây hết cực hết nghèo
Vui theo ra ruộng nhàn theo về nhà.

- Chưa chi anh đã vội về
Hay là xuân giục vội về với xuân.

- Mưa xuân, lác đác vườn đào
Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa.

- Mỗi năm vào dịp xuân sang
Em về Triều Khúc xem làng hội xuân
Múa cờ, múa trống, múa lân
Nhớ ai trong hội có lần gọi em…

- Một năm là mấy tháng xuân
Ăn chơi cho thỏa phong trần ai ơi!

For this message the author Duyên Chi has received thanks: 2
DIEU DUC(Wed Nov 25, 2015 1:30 am), Ngô Đồng(Fri Jan 24, 2014 5:26 pm)
Rating:12.5%
 
Duyên Chi
 
Posts: 7374
Images: 33
Joined: Wed Sep 01, 2010 7:03 am
Has thanked: 33951 times
Have thanks: 25840 times

Re: Ca dao Tục Ngữ về Tết

Postby DIEU DUC » Wed Nov 25, 2015 1:43 am

Chuyện tình " VƯƠNG GIẢ " lồng vào câu hát ru em -
Ca dao Đồng Nai - Cửu Long

- Nguyễn Hữu Phước -

Chàng nói tiếng Tây như người Pháp. Nàng nói tiếng Pháp y như „đầm“ Paris (Pháp: dame =
đàn bà). Chàng là "đệ nhất công dân“ của VN được triều đình gởi sang Pháp học. Nàng con
nhà giàu có, miền Lục Tỉnh, có ruộng lúa "cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi“, giàu
"nức đố, đổ vách“ cũng du học bậc trung học ở xứ Tây. Khi mới làm quen với nàng, chàng đã
than "nghèo“:

Cây khô tưới nước vẫn khô
Con vua nhưng đến xứ mô vẫn nghèo
(câu đúng là "Vận nghèo đi đến xứ mô vẫn nghèo“.)
Chàng nói thật lòng đấy, vì tuy là triều đình gởi đi, nhưng „phụ cấp hàng tháng“ rất là tương
đối, giới hạn, so với Nàng thì... thật thua xa.

Nàng không để ý đến chuyện giàu nghèo, nhưng cũng biết nói chơi cho vui:
Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong, sao lại chảy hoài,
Thương người xứ lạ lạc loài đến đây.

Nàng thỏ thẻ tiếp theo, gợi ý mời mọc, khuyến khích:
Nhà Bè nước chảy chia đôi
"Ai“ về Gia Định cùng tôi thì về.
(có nơi chép: Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định Đồng Nai thì về)

Khi gặp Nàng lần đầu, Chàng "bonjour“ (chào) nàng bằng cách bắt tay theo kiểu Pháp. Chàng
biết "nịnh đầm“ bằng câu ca dao miền Lục Tỉnh:
Tay Bậu vừa trắng vừa tròn
Qua về nằm ngủ, mỏi mòn đợi trông
Bậu về ở xứ Gò Công
Qua về Thành Nội nhớ mong tháng ngày.

(Hai câu đầu còn được ghi:
Tay em vừa trắng vừa tròn
Em cho ai mượn nằm mòn một bên
Có bạn khác lại đọc là:
Tay em vưa trắng vừa tròn
Anh về nằm ngủ thấy thèm chè đậu xanh)

Ngoài ra hai câu sau (nói về Gò Công và Thành Nội) chắc là do bạn già của tôi bịa ra, tôi
chưa bao giờ nghe tới lần nào, tôi có gạn hỏi "va“ thì "va“ (va là anh ta, ông ta) nói nhớ sao
đọc vậy, muốn xài thì xài, không xài cứ bỏ. Nhưng vần điệu, nội dung đều hay làm sao bỏ
được.)
Nghe vậy Nàng thật lòng cảm động. Nhưng... làm sao tin được chàng trai xa lạ và lại thuộc
dòng "vương giả cao sang“ nầy. Để thử lòng chàng, nàng bảo nhỏ giọng thẳng thắn, đặc sệt
miền "Lục Tỉnh“:
"Toa phải thề Moa mới tin“ (Pháp: Toi = anh, moi = tôi, em, chữ gọi nhau
cách thân mật). Chàng mạnh miệng thề rằng: "Nếu Moa mà có nói láo với Toa thì cho Moa:

Trèo lên ngọn ớt, ớt gãy nhánh,
Moa rớt xuống ngọn hành
Hành đâm Moa lủng ruột cho đành dạ Toa.“

(Hai câu thề "xạo“ được truyền miệng là:
Trèo lên ngọn ớt, rớt xuống ngọn hành
Hành đâm lủng ruột cho đành dạ em;
Hoặc:
Hành đâm anh lủng ruột, sao em đành làm ngơ)

Chàng tiếp theo ngay: "Qua nói chơi cho Bậu vui. Thật ra Qua rất thương Bậu, Qua hứa là sẽ
thủy chung suốt đời:
Bao giờ Long Thọ* hết vôi
Đồng Nai hết nước anh thời quên em**.“
(*Theo Học giả Trần Gia Phụng, Long Thọ là một nơi chuyên sản xuất vôi, ở gần Huế. **
Theo Tiến sĩ Phan Tấn Tài (PTT), hầu hết các câu ca dao trong vùng ĐN-CL đều dùng
"chừng nào“ thay vì "bao giờ“ )

Cũng có bạn già đọc cho tôi câu sau đây, tương tợ câu trên:
Chừng nào (Bao giờ) cạn lạch Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền
Bạn khác lại đọc:

Chừng nào đá nát vàng phai
Cửu Long hết nước mới sai lời nguyền.
Hoặc:

Chừng nào trời nọ bể hai
Bông vông màu trắng mới phai lời thề. (Phăn Tấn Tài)
Nàng nghe vậy rất cảm động, Tuy nhiên Nàng còn lo lắng một vấn đề khác có thể làm trở
ngại cho việc hôn nhơn: Nàng theo Công giáo, Chàng thuộc hoàng phái với nhiều thành tích
cấm đạo, và đôi khi tổ tiên Chàng con ra lệnh tàn sát người theo đạo nữa. Nàng lo lắùng tỏ
bày:

Một bên đạo, một bên đời
Công cha nghĩa mẹ tội trời ai mang.
Chàng đưa đề nghị rõ ràng:
Ví dầu Bậu có thương Qua
A-men phận thiếp, quốc gia chuyện Chàng.

(Bốn câu bên trên không phải câu hát ru em hay ca dao, mà chỉ là một giai thoại, nghe kể lại
rằng Vua Bảo Đại đã nói với Nàng tại "dinh nghỉ mát“ Vũng Tàu, lúc đó hai người chỉ mới
quen nhau, sự thật ra sao nào ai biết được?)
Chàng đã thương Nàng lắm rồi, nhưng vẫn ngai ngái lo âu:

Đèn treo cột đáy, nước chảy cột đèn run
Anh thương em thảm thiết vô cùng
Biết Cha với Mẹ có bằng lòng hay không?

Tuy nói vậy, chớ Chàng và Nàng đã quyết lòng cùng nhau xây đắp tương lai, sống cuộc đời
lứa đôi hòa thuận. Chàng mượn câu hò miền Lục Tỉnh để diễn tả:

Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc*
Gió nào độc cho bằng gió Gò Công
Vợ chồng son một lòng ước mong
Thuận vợ chồng ta cùng tác Biển Đông

(*Dưới thời Vua Gia Long, Ông Thoại Ngọc Hầu được lệnh đào kinh (kênh) Vĩnh Tế nối liền
sông Hậu (Hậu Giang) thuộc Châu Đốc đến biển Hà Tiên. Đây là một công trình vĩ đại với
mục tiêu vừa để chống giữ biên giới vừa giúp cho việc lưu thông và thoát nước trong mùa lụt.
Ông Thoại Ngọc Hầu đã huy động trên mười ngàn người Việt, Cam Bốt và Chăm (ngày xưa
gọi là Chàm ở vùng Châu đốc) cho công tác to lớn và đầy cực nhọc nầy.
"Để con kênh đào được thẳng, phải đợï tới ban đêm vạch rẽ rừng lau sậy,
đốt đuốc trên đầu những cây sào thật cao, nên mới có câu hát ru đèn nào cao
cho bằng đèn Châu Đốc, người điều khiển phải đứng trên cao và từ xa dùng cây
phướn phất qua lại ra hiệu cho người cắm những cây sào lửa ấy vào đúng vị
trí.“ (Ngô Thế Vinh)

(Ngoài ra, theo TS Phan Tấn Tài thì các câu trên do: "bài ca dao gốc có nguồn ở Đức Phố tỉnh Quảng Ngãi):
Đèo nào cao bằng đèo Sơn Cốc
Dốc nào ngược bằng dốc Mỹ Trang
Nghe tiếng em than hai hàng lụy nhỏ
Còn chút mẹ già biết ngỏ cùng ai.
Từ bản gốc này đã có ít nhất 13 bản cải biên ở miền Nam. Những bản cải biên ở miền Nam có
dạng bát ngôn tứ cú, khác với bản gốc dạng 7-7-8-8. „...
Thêm vào, Tiến sĩ PTT cũng cho biết là bốn câu hò miền Lục Tỉnh đã được nhạc sĩ Phạm Duy
dùng trong trường ca Con Đường Cái Quan; và câu thứ 3, trong bản nhạc là „Vợ chồng son đã
nuôi lòng ước mong“. )

Thế là sau đó Chàng, vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, và cũng là vị vua cuối
cùng của thể chế quân chủ ở VN, đã cưới Nàng, tên Nguyễn Hữu Thị Lan, một cô gái gốc Gò
Công, (cũng có nơi nói Nàng người gốc Tân An, không biết thực hư ra sao) làm vợ. Quyền,
tiền và sự kiện cùng căn bản học vấn đã được tác duyên. Và một câu ca dao của miền Huế đã
được ai đó biến đổi một chút cho hợp tình hợp cảnh:

Gió đưa cành trúc là đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Gò công
((Học giả Thái Văn Kiểm (tôi không nhớ tên bài viết và tạp chí) có nói về sự thay đổi của câu ca dao trên theo sự di chuyển địa dư rằng
Gió đưa cành trúc là đà
Tiếng chuông Xá Lợi, canh gà Thủ Thiêm))
(Xá Lợi: tên một ngôi chùa ở trong tâm Sài Gòn, Thủ Thiêm một địa danh ở cạnh sông Sài
Gòn đối diện với cột cờ Thủ Ngữ)

Chàng tuy không có nhiều thực quyền khi làm vua, nhưng có đủ can đảm làm trái lại một
trong năm "điều cấm“ nổi danh được truyền miệng từ thời vua Minh Mạng: Sau khi trở thành
rể quí của Gò Công, Chàng phong nàng làm "Nam Phương Hoàng Hậu“. Năm điều mà các
vua nhà Nguyễn, kể cả vua Minh Mạng, không được làm là:
phong Hoàng hậu, lập Thái tử, phong Vương tước, phong Tể Tướng, và phong Trạng nguyên.
(Trong một buổi cơm tối ở thành phố Orange, học giả Trần Gia Phụng có nói cho chúng tôi biết,
rằng cái mà chúng tôi
gọi là những „điều cấm“ đó được gọi chánh thức trong sử sách là lệ „ngũ bất lập“ (năm điều
không lập). Và vì vua không có ký văn kiện hay ra chiếu chỉ gì cả nên sử gọi „lệ“ nầy của nhà
Nguyễn là "quy ước bất thành văn“ ). Tôi ham mộ mối tình vương giả nhiều khó khăn nầy. Tôi thán phục
Chàng và Nàng đã tìm được giải pháp ổn thỏa để tiến tới cuộc hôn nhân, một cuộc hôn nhơn tốt đẹp,
ít nhất là từ lúc cưới nhau năm 1934 (Bảo Thái) cho đến khi thoái vị vào tháng 8, 1945. Trong trong thời gian
nầy Nàng và Chàng sinh được năm con, hai hoàng tử (đầu lòng và út) và ba công chúa... Vì
ham mộ tôi mới mượn tên Chàng và Nàng để đọc giùm tôi mấy câu hát dân gian vừa thu chép
được.
Cô gái Gò Công đã nhận lãnh tước vị cao nhất mà Vương triều nhà Nguyễn dành cho Nàng.
Còn chàng thì sao? Chàng ở vào cái sự thế mà đời gọi là "chuột sa hủ nếp“. Không biết cha
mẹ Nàng cho Nàng bao nhiêu làm của "hồi môn“. Nhưng điều mà người ngoài biết được là
cậu ruột nàng, ông Lê Phát An, đã tặng nàng món quà cưới một triệu đồng Đông Dương (bạc
mặt). Con số nầy là con số khổng lồ của thời 1934. (theo học giả Vương Hồng Sển, vào thời
điểm đó "tờ giấy xăng (Pháp: Cent là 100 = tiền giấy 100 đồng) có người trọn đời chưa từng
thấy, và giàu bạc muôn, tức trong nhà có được mười ngàn, là đã giàu bậïc nứt đố đổ vách.“
Phải chăng nhờ vào sự kiện đó mà chàng hưởng thụ cuộc sống làm vua không
quyền, nhưng vẫn thoải mái đi săn bắn và du lịch nhiều hơn là làm các việc liên hệ đến vận
mệnh dân tộc?
Phải chăng vì Gò Công có gió độc, nên nghề làm vua của Chàng phải trải qua nhiều lận đận
lao đao trong mấy chục năm cuối của đời Chàng? Và cuộc đời của Nàng sau biến cố 1945
cũng có nhiều u buồn do vận nước hay vẫn do gió độc Gò Công? Làm sao đọc được hồi ký
của Nàng thì may ra có nhiều tia sáng hơn cho cuộc tình vương giả nầy, vì cuốn sách do
chàng viết còn chưa có những điều về cuộc sống của Nàng mà chúng ta muốn am tường hơn.

DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times


Return to Phong Tục Tập Quán

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest

cron