Tản Mạn về NHẠC SĨ, CA SĨ và NHẠC PHẨM

Tản Mạn về NHẠC SĨ, CA SĨ và NHẠC PHẨM

Postby hat@ » Fri Aug 28, 2015 2:50 pm

Ca Nhạc Sài Gòn Trước 75

Nguyễn Việt

Image

Lời người viết:

Lâu rồi các bạn bè thân hữu mỗi khi gặp tôi cứ hỏi “Liệu ông có viết lại các mẫu chuyện về Ca Sĩ Sài Gòn trước năm 75 được không?”. Bởi dù gì ngày trước ở Sài Gòn tôi viết chuyên mục về điện ảnh tân nhạc cho nhiều báo và tạp chí, mà nhật báo Trắng Đen với số bán chạy nhất thời đó là chủ chốt; đồng thời cũng là một trong các sáng lập viên “Nhóm thân hữu ký giả Điện ảnh Tân nhạc Việt Nam” (như Huy Vân TTK báo Tiền Tuyến, tức Binh Cà Gật trong tạp chí Chiến Sĩ Cộng Hòa, Nguyễn Toàn, Tương Giang, Phạm Hồng Vân, Phi Sơn….) thuộc “thiên lý nhãn”…. trăm tai ngàn mắt thời đó.

Viết về giới ca nhạc sĩ Sài Gòn thời trước 1975, là viết những chuyện đằng sau hậu trường, những chuyện dính dáng vào đời tư nhưng không đến nỗi phải bồi thường “một đồng danh dự”; có thể có những vụ việc đã từng được đăng hoặc chưa được đăng trên báo, viết về người còn ở lại và người đã xa quê hương, quả thật hết sức phức tạp!

Lý do “sự thật hay mích lòng”, nhưng đã hơn 30 năm xin cứ coi đây là kỷ niệm, thật hư thế nào chính người trong cuộc sẽ hiểu!…. Nhưng vì một lẽ giản đơn “không muốn vạch áo cho người xem lưng” đó thôi!?

Cuối cùng, những phần hồi ký này chỉ trích đăng từng phần, nếu có dịp xin sẽ viết tiếp… và viết ra để những người về sau tham khảo và biết về các Nhạc Sĩ & Ca Sĩ trước 1975, đang ở VN, Hải ngoại đã thành danh như thế nào.

CA SĨ SAIGON – XUẤT HIỆN TỪ ĐÂU?

Nói đến ca sĩ từ đâu đến hay nôm na từ đâu mà thành danh. Tôi chợt nhớ đến Chế Linh đầu tiên, nhớ ngay cái ngày một thanh niên gốc Chàm khúm núm đến gặp Tùng Lâm ở hậu trường rạp Olympic, một sân khấu đại nhạc hội do quái kiệt Tùng Lâm tổ chức song song với Duy Ngọc ở bên rạp Hưng Đạo vào mỗi sáng chủ nhật.

Tôi nhớ buổi sáng chủ nhật hôm đó khi anh chàng da ngâm đen tóc quăn, ăn mặc nguyên bộ đồ jean. Đến Tùng Lâm cũng không hiểu tại sao anh ta, một người lạ mặt vào được tận bên trong hậu trường. Còn đang ngạc nhiên thì anh chàng người Chàm đã tới gặp ngay Tùng Lâm xin cho được hát vào những lúc ca sĩ còn chạy show chưa kịp đến.

Image

Tùng Lâm quyết liệt từ chối, dù lúc đó phải đóng màn chờ ca sĩ cũng không dám cho anh chàng người Chàm này lên hát, một phần do anh ta là người dân tộc thiểu số và cũng chưa từng nghe anh ta hát bao giờ.

Nhưng kế tiếp những tuần sau, anh chàng người Chàm lì lợm vẫn đều đặn xuất hiện xin Tùng Lâm cho được hát, và rồi Tùng Lâm cũng đành chào thua sự lì lợm quá mức này, đành chấp nhận cho anh ta hát một bài để thử, với lời dặn chỉ hát một bài và không có tiền “cát sê”.

Tôi chứng kiến các buổi anh chàng người Chàm đến và cả buổi đầu tiên được Tùng Lâm cho lên hát một nhạc phẩm của Duy Khánh, với tên được giới thiệu là Chế Linh. (nghệ danh này sau mới rõ nó có hai nghĩa, nghĩa thứ thứ nhất là họ Chế để khẳng định là ”con cháu” của Chế Mân, Chế Bồng Nga. Nghĩa thứ hai có nghĩa là “lính chê” bởi người thiểu số được miễn hoãn quân dịch).

Không rõ Chế Linh có được học hát hay có thiên bẫm hát theo đĩa hay băng nhạc mà nhiều nam nữ mầm non ca sĩ thường hát nhái đến thuộc lòng, đến khi bài hát chấm dứt thì hàng loạt tiếng vỗ tay nổi lên tán thưởng kèm theo những tiếng gào “bis, bis” nổi lên ầm ỉ nơi hàng ghế khán giả.

Nhưng nhìn những người ái mộ vỗ tay gào thét kia lại chính là đồng hương của Chế Linh, do chính Chế Linh bỏ tiền ra mua vé cho họ vào xem và chờ đợi cái ngày hôm đó, để chỉ làm một động tác vỗ tay hoan hô và gào lên những tiếng bis, bis.

Do không được ai lăng xê, không được ai kèm cặp, Chế Linh thường hát nhái theo giọng ca Duy Khánh và cả những bài hát tủ của Duy Khánh từng thành đạt. Và nhờ những đồng hương hàng tuần đến vỗ tay, sau này Chế Linh được Tùng Lâm nhận làm “đệ tử” trong lò đào tạo ca sĩ của mình (?).

Image

Từ lúc đó Chế Linh mới được uốn nắn rèn giũa lại chính giọng ca của mình.

Khi nói đến những lò “đào tạo ca sĩ” thường là những nơi có môi trường “lăng xê”, như nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chương trình trên Đài truyền hình số 9 là Ban Thiếu nhi Sao Băng và chương trình Nguyễn Đức, cùng hai chương trình trên Đài phát thanh là Ban Việt Nhi, ban ABC. Còn quái kiệt Tùng Lâm có Đại nhạc Hội, và chương trình Tạp Lục trên truyền hình. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của TC/CTCT mà Song Ngọc đứng đầu tàu.

Đây là những lò nhạc giới thiệu nhiều ca sĩ nhất trong thời gian đó. Như lò Nguyễn Đức có một lô ca sĩ họ Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng) hay trước đó là Hoàng Oanh có cả nghệ sĩ hài như Thanh Hoài, Trần Tỷ.

Lò Tùng Tâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến rồi Chế Linh, Giang Tử. Lớp nhạc Bảo Thu có Thanh Mai, Thanh Tâm sau này Kim Loan; Hoàng Thi Thơ có Sơn Ca, Bùi Thiện, Họa Mi v.v…

Trở lại với Chế Linh, tuy quái kiệt Tùng Lâm có môi trường “lăng xê” nhưng về chuyên môn dạy thanh âm cho ca sĩ lại “mù tịt”; qua đó đã liên kết với nhạc sĩ Bảo Thu và Duy Khánh đào tạo hay lăng xê Chế Linh trở thành một danh ca như từng đào tạo lăng xê ra những Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến… Vì từ lò Bảo Thu (còn là ảo thuật gia Nguyễn Khuyến) cùng Duy Khánh (khi đó ở chung cư Trần Hưng Đạo) đã cho “ra lò” nhiều ca nhạc sĩ như Quốc Dũng, Thanh Mai, Thanh Tâm, Kim Loan…

Image

Image

Việc liên kết giữa Tùng Lâm – Bảo Thu – Duy Khánh làm cho nhiều lò đào tạo ca sĩ bấy giờ lên cơn sốt, bởi ở đây có đủ môi trường để các tài năng trẻ thi thố tài năng, Tùng Lâm có sân khấu đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình; dạy thanh âm và cung cách biểu diễn. Chế Linh nhờ vào “lò” Tùng Lâm mà thành danh cho đến ngày nay.

Tuy nhiên ngoài những lò “đào tạo ca sĩ” nói trên cũng có những ca sĩ thành danh từ những phòng trà khiêu vũ trường, trong phong trào văn nghệ học đường, đại hội nhạc trẻ, những đoàn văn nghệ do chính quyền thành lập. Như Vi Vân, Julie Quang, Carol Kim, Đức Huy, Ngọc Bích, Thúy Hà Tú (Khánh Hà – Anh Tú), Thanh Tuyền, hài có Khả Năng, Thanh Việt, Phi Thoàn, Xuân Phát…

Elvis Phương nổi danh từ l1972 thời gian vào lúc do Thanh Thúy đang khai thác phòng trà Queen Bee cùng với ông Tuất (sau thời kỳ Khánh Ly), nhưng Elvis Phương đã tạo cho mình một chỗ đứng lúc còn là học sinh cùng với ban nhạc trẻ học đường. Sau đó Elvis Phương đi hát cho nhiều phòng trà nhưng do không ai dìu dắt lăng xê đến nơi đến chốn nên vẫn chỉ là cái bóng của những đàn anh đàn chị.

Image

Khi Thanh Thúy khai thác Queen Bee, có nhạc sĩ Ngọc Chánh làm trưởng ban nhạc Shotguns cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Hà; và hội nhập vào làng sản xuât băng nhạc 1972. Elvis Phương mới được biết đến từ đó (1969). Tuy vậy Ngọc Chánh không cho mình đã tạo ra tên tuổi Elvis Phương, anh chỉ có công “lăng xê” còn giọng hát của Elvis Phương là do thiên phú hay từ môi trường văn nghệ học đường mà thành công.

Các lò đào tạo ca sĩ ngoài những môi trường để dễ dàng “lăng xê” gà nhà, nhưng muốn lăng xê một ca sĩ còn phải qua nhiều cửa ải khác, như tìm một nhạc phẩm thích hợp với giọng ca để ca sĩ chọn làm bài hát tủ như người ta thường ví đo ni đóng giày.

Bài hát tủ như khi nghe Phương Dung hát chỉ có bài Nổi Buồn Gác Trọ là nổi bật, nghe Túy Hồng biết đang hát nhạc của Lam Phương (cũng là chồng của Túy Hồng), nghe Thanh Thúy lúc nào cũng có bản Ngăn Cách của Y Vân, Thanh Lan với các ca khúc Bài không tên cuối cùng của Vũ Thành An hay Tình khúc… của Từ Công Phụng, Lệ Thu với Nữa hồn thương đau của Phạm Đình Chương, Thái Thanh thì chỉ có Dòng Sông Xanh nhạc Việt hóa của Phạm Duy, Khánh Ly ngoài những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, thường tìm cho mình con đường mới là hát nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Văn Cao. Phương Hồng Quế với Phố Đêm, Những chuyện tình không suy tư của Tâm Anh v.v…

Sau khi ca sĩ có những bài hát tủ, các lò còn phải nhờ báo chí viết bài ca tụng tán dương, bỏ tiền cho các tạp chí lên ảnh bìa hay nhờ báo chí cho đứng tên một mục thường xuyên nào đó như phụ trách trang nhi đồng, giải đáp tâm tình, trả lời thư tín, nhưng các ông bầu đào tạo thường trao đổi ca sĩ cho nhau giữa các show truyền hình truyền thanh, vì ít tốn kém và hiệu quả, tạo đến tai nghe mắt nhìn cho khán thính giả một cách thực tế, được chú ý hơn.

Image
Một Phương Hồng Quế có thời gian chiếm lĩnh trọn vẹn trên truyền hình, từ show này đến show khác, được phong tặng ”Tivi Chi Bảo“, giữ trang Vườn Hồng, Họa Mi trên báo Tin Điển, Chuông Mai, Trắng Đen, Đồng Nai, Hòa Bình cùng Phương Hồng Hạnh.

Nhưng ai có biết Nguyễn Đức đã bỏ ra bao nhiêu tiền để Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh dược như thế? Chị em Thanh Thúy, Thanh Mỹ giữ mục Trả lời thư tín trên báo Tiếng Dân, sau này cô em út là Thanh Châu trên báo Trắng Đen v.v…

Tất cả chỉ là cái tên trên báo, vì đã có người làm giúp viết giúp và lãnh tiền giúp, đó là những ngón nghề lăng xê ca sĩ từ các lò “đào tạo ca sĩ”. Đa số các lò nhạc chỉ thích lăng xê “nữ ca sĩ ” hơn nam vì có nhiều lý do, nhưng lý do dễ hiểu nhất đa số… các ông thầy đều có máu dê.

Có một giai thoại, người ta đồn một nhạc sĩ gốc mật vụ đệ tử Trần Kim Tuyến thời Ngô Đình Diệm, rất thích các nữ nghệ sĩ, muốn cô nào từ ca sĩ đến kịch sĩ là nhờ bọn đàn em mời về cơ quan hứa hẹn dành cho họ nhiều ưu đãi trong nghề nghiệp với điều kiện cho ông ta được ”thưởng thức“, sau đó giữ bí mật chuyện giữa ông ta với nàng.

Chuyện bí mật đó là gì? Trước đó tức trước khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, có lần ông nhạc sĩ mật vụ còn cao hứng đòi lấy một nữ kịch sĩ làm vợ, khiến cô nàng sợ quá vọt trốn ra nước ngoài sống mấy năm mới dám về Sài Gòn hoạt động kịch nghệ trở lại (cũng nhờ ra nước ngoài mà sau này được trọng vọng thành người thân cộng).

Không phải người nữ nghệ sĩ này không khoái ông sĩ quan mật vụ, mà không khoái khi nghe ông bầu show là quái kiệt Trần Văn Trạch của “Đại nhạc hội một cây” nói đến tính bất lực của ông ta. Vậy mà sau này có những con thiêu thân “ca sĩ mầm non” đang bán phở hủ tíu, chấp nhận cho ông ta được “thưởng thức” để có môi trường trở thành nữ danh ca..

TOÀN CẢNH TÂN NHẠC MIỀN NAM

Bước vào những năm 63 – 70 của thập kỷ trước, phong trào Kich Động Nhac và Nhạc trẻ bắt đầu xâm nhập mạnh, các ca khúc lãng mạn hay lá cải gần như chìm lắng nhường cho nhạc ngoại quốc được Việt hóa, lý do bộ thông tin & tâm lý chiến bấy giờ ra lệnh các nhạc phẩm VN phải có lời mang tính ca tụng người lính hay tính chiến đấu.

Những nhạc phẩm sặc mùi chiến tranh tâm lý chiến như Lính dù lên điểm, Người ở lại Charlie, Đám cưới nhà binh, Hoa biển, Anh không chết đâu em, Câu chuyện chiếc cầu đã gãy, Kỷ vật cho em, Mùa thu chết v.v.. ra đời.

Loại kích động nhạc, nhạc VN tâm lý chiến có Trần Trịnh viết cho Mai Lệ Huyền lúc đó đang còn sống chung (sau Mai Lệ Huyền lấy một đạo diễn trên Đài truyền hình số 9 rồi mới vượt biên), hát cặp với Hùng Cường thuộc loại ăn khách.

Nhật Trường – Trần Thiện Thanh viết cho chính anh cùng với Thanh Lan. Còn Khánh Ly, Lệ Thu chỉ nỉ non hát những bài của Phạm Duy như Mùa Thu Chết, Kỷ vật cho Em, Giọt mưa trên lá… Các nhạc sĩ khác không có nhạc phẩm mới chỉ cho ca sĩ nhai đi nhai lại các bài hát cũ.

Image

Vì vậy nhạc Pop Rock – Việt hóa ăn khách do không nằm trong lệnh của bộ thông tin & tâm lý chiến. Những ca khúc trữ tình như Hởi người tình La-ra nhạc phim Dr.Zivago, Roméo Juliette, Giàn thiên lý đã xa, Khi xưa ta bé, Lịch sử một chuyện tình… được ra đời. Trước đó xuất hiện cùng những ca sĩ ban nhạc Black Caps, Les Vampires, Rockin Stars, The 46, Fanatiques, Spotlights, và phong trào Viet Hóa như Phượng Hoàng, Mây Trắng (Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Trung Hành, Elvis Phương), CBC (Bích Liên), Crazy Dog (Những đứa con của cặp nghệ sĩ Việt Hùng – Ngọc Nuôi với Ngọc Bích đầu đàn) Ba Con Mèo (có Vi Vân, Julie và Mỹ Hòa), Tú Hà Thúy (Anh Tú, Khánh Hà, Thuy’ Anh) và những ”thủ lãnh” phong trào lúc đó là Nhac Trẻ: Trường Kỳ, Tùng Giang, Đức Huy, Kỳ Phát, Nam Lộc.

Image

Nên phải nói rằng nền ca nhạc ở Sài Gòn từ những năm 60 đến 75 mới thực sự có nhiều điều để nói, vì trước đó thời TT Ngô Đình Diệm cấm mở khiêu vũ trường, nên sinh hoạt tân nhạc còn trong phạm vi thu hẹp chỉ có Đài phát thanh, Phòng trà và Đại Nhạc Hội. Trong thời gian này có Ban Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng, nhạc hài hước có Trần Văn Trạch, song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hay Thúy Nga với tiếng đàn phong cầm (sau thành vợ Hoàng Thi Thơ), Duy Trác, Bạch Yến, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Ánh Tuyết, Cao Thái…

Do thiếu hụt ca sĩ, các tay tổ chức Đai Nhạc Hội thường đưa vào các tiết mục múa của Lưu Bình, Lưu Hồng, Trịnh Toàn, kịch nói chưa phát hiện ra Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Vân Hùng… chỉ có những nghệ sĩ gần đứng tuổi như Phùng Há, Bảy Nam, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nhiêu, Hoàng Mai, Anh Lân, Kim Lan, Kim Cúc, Túy Hoa, Xuân Dung hay cua-rơ Phượng Hoàng Lê Thành Cát (một kịch sĩ nghiệp dư) chiếm lĩnh sân khấu cùng kịch sĩ đất Bắc như Lê Văn, Vũ Huân, Vũ Huyến…

Thời gian 1965 – 1975 giới thưởng thức tân nhạc bắt đầu chia khán giả cho từng loại ca sĩ:

- SVHS thì thích những giọng hát của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Paolo Tuan, Elvis Phương bởi khi hát có chọn lọc nhạc phẩm mang tính nghệ thuật cao cấp.

- Đại đa số quần chúng lại thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu hát những nhạc phẩm bậc trung nẳm giữa nghệ thuật và thị hiếu.

Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Thanh Hùng, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang hát các bài được soạn theo kiểu tiểu thuyết lá cải như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương … được giới bình dân ưa thích (gọi là “nhạc sến”), cho nên giới sản xuất băng nhạc bấy giờ rất kén ca sĩ hát cho nhãn băng nhạc, nếu nhãn băng nhạc nào có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan v.v… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Giang Tử, Duy Khánh v.v…

Image

Khán thính giả đã phân chia hạng bậc ca sĩ nhạc phẩm để thưởng thức. Ông bầu Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng mong chiếm trọn thị trường, vì làm băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn do đã phân chia ra từng lớp:

- Shotguns dành cho lớp người có trình độ thưởng thức cao.

- Nhãn băng Thanh Thúy dành cho mọi tầng lớp khán thính giả.

- Nhãn băng Hồn Nước có Chế Linh, Duy Khánh, Trang Mỹ Dung, Phương Hồng Quế v.v…

- Phục vụ thành phần cao niên hoài cổ có băng nhạc Tơ Vàng của Văn Phụng Châu Hà, quy tụ những ca sĩ di cư từ đất Bắc như Duy Trác, Châu Hà, Kim Tước, Thái Thanh, Sĩ Phú qua những nhạc phẩm tiền chiến của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Nghiêm Phú Phi, Phạm Duy, Phạm Đình Chương… vừa có nhạc tiền chiến vừa có nhạc hiện đại của những nhạc sĩ tên tuổi.

- Tầng lớp SVHS có nhãn bang hiệu Shotguns, Khánh Ly, Jo Marcel để nghe nhạc phẩm Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Y Vân, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ánh 9.

- Giới bình dân có rất nhiều nhãn hiệu băng như Hoàng Thi Thơ, Họa Mi, Hồn Nước, Chế Linh, Âm Thanh, Trường Sơn, Nguồn Sống qua nhạc phẩm Châu Kỳ, Mạnh Phát, Anh Việt Thu, Đỗ Lễ, Trầm Tử Thiêng, Vinh Sử, Tú Nhi, Hàn Châu, Song Ngọc, Duy Khánh, Thanh Sơn, Y Vũ, Trần Trịnh, Tâm Anh, Đynh Trầm Ca…

- Nhạc trẻ có nhóm Trường Kỳ, Tùng Giang, Kỳ Phát đều có nhãn băng nhạc riêng, riêng kiosque của chị em Thúy Nga (không phải vợ Hoàng Thi Thơ) lúc đó chỉ chuyên sang nhạc đĩa nhac Ngoai Quốc nước ngoài mang nhãn Selection hay Anna / Hon Hoang.

Thế giới ca nhạc Saigon đã phân chia thứ bậc theo sự thưởng ngoạn, ca sĩ cũng được phân chia ngôi thứ rõ ràng, đó là đặc tính của tân nhạc miền Nam ngày trước… tháng 04 /1975.

CẶP TRỊNH CÔNG SƠN & KHÁNH LY

Image

Từ ngày tôi viết báo và làm báo đến ngày Sài Gòn “đứt phim” nhiều lần tôi viết về Trịnh Công Sơn, dù đến bây giờ giữa tôi và họ Trịnh chưa một lần tiếp xúc, có lẽ vì Trịnh Công Sơn quá cao ngạo thường nghĩ mình là cái “rún” của nền âm nhạc Việt Nam từ trước và sau 1975, đồng thời họ Trịnh còn phân biệt địa phương chỉ thích giao tiếp với người gốc Huế hay gốc Bắc di cư 1954 sau này 1975, còn người làm báo miền Nam (ngày xưa có hai phe báo Nam báo Bắc, có cả 2 nghiệp đoàn ký giả Nam Bắc khác nhau), họ Trịnh tỏ ra không mặn mà để giao tế hay tiếp xúc.

Tôi nhớ vào khoảng năm 1964-65 phong trào Sinh Viên Học Sinh xuống đường đang bộc phát mạnh từng ngày. Ngày nào SVHS cũng xuống đường đòi xé Hiến chương Vũng Tàu của tướng Nguyễn Khánh, rồi một Quách Thị Trang nữ sinh trường Bồ Đề (Cầu Muối) ngã xuống do lạc đạn tại bồn binh chợ Bến Thành trong một đêm đầy biến động với lựu đạn cay và cả tiếng súng thị oai của cảnh sát bót Lê Văn Ken, và từ đó nổi lên phong trào hát du ca, toàn ca khúc phản chiến.

Cũng từ đó quán cà phê Văn được hình thành trên một bãi đất gò rộng lớn, bãi đất này từ thời Pháp từng được dùng làm khám lớn còn gọi bót Catinar bên hông pháp đình Sài Gòn. Bãi đất được chính quyền Nguyễn Khánh mà mị ve vuốt cấp cho SVHS làm trụ sở Tổng Hội Sinh Viên do Lê Hữu Bôi, Nguyễn Trọng Nho đang lãnh đạo phong trào SVHS xuống đường, để đổi lấy sự yên tĩnh cho thủ đô.

Quán cà phê Văn nằm sau trường Đại Học Văn Khoa, lúc đó do nhóm sinh viên đang theo học tại đây dựng lên và đặt thành tên gọi, được đông đảo anh chị em SVHS ủng hộ hàng đêm cả ngàn người đứng ngồi trên bãi cỏ, mở đầu nghe phong trào hát du ca của cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly qua những Ca khúc Da Vàng.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly mới từ Đà Lạt vào Sài Gòn. Phong cách biểu diễn của Khánh Ly lúc đó rất bụi, chân đất, miệng phì phà điếu thuốc Salem và hát những bài do Trịnh Công Sơn sáng tác và đệm đàn. Bấy giờ người ta đã đặt cho Khánh Ly cái tên “ca sĩ cần sa”, “tiếng hát ma túy” v.v… vì giới SVHS thời đó, nhất là giới nữ chưa thấy một ai dám cầm điếu thuốc hút phì phèo nơi công cộng như thế, xem như một cuộc cách mạng trong giới trẻ.

Image

Trước thời gian này họ Trịnh tuy đã có nhiều sáng tác nhưng chưa được ai biết đến như bài Ướt mi, Lời Buồn Thánh, Xin mặt trời ngủ yên (liên hoàn khúc) chưa hội nhập được vào giới ca sĩ phòng trà. Nên biết rằng, ca sĩ thời đó thường hát các nhạc phẩm của những nhạc sĩ đã thành danh như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Văn Phụng, Lê Dinh, Anh Bằng, Y Vân, Lan Đài… những nhạc phẩm mang tính đại chúng, còn nhạc và tên tuổi của họ Trịnh hãy còn quá xa lạ với mọi người; các ca sĩ không dám hát sợ rằng khán thính giả sẽ tẩy chay khi hát những nhạc phẩm của người không tên tuổi.

Lúc đó Khánh Ly cũng như Trịnh Công Sơn đều chưa có chỗ đứng trong sinh hoạt tân nhạc, khán thính giả chỉ biết đến những ca sĩ như Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương, Châu Hà, Duy Trác, Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết, Hoài Trung, Hoài Bắc hoặc trẻ trung như Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung v.v…

Khi được giới SVHS chào đón trên bãi đất Văn, bấy giờ Trịnh Công Sơn – Khánh Ly mới được mọi người để ý, bởi lời nhạc và cung cách biểu diễn của cả hai đang cách tân truyền thống cũ; nhưng tiếp đó cặp Vũ Thành An – Thanh Lan rồi Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên tuy đi sau nhưng lại nổi đình nổi đám cũng từ phong trào hát du ca này. Các nhạc sĩ sau soạn nhạc cũng dành cho giới trẻ cho tầng lớp người mới có kiến thức. Lời nhạc không rên siết bởi tiếng bom đạn mà rất du dương tình tứ đến lãng mạn gieo đến tâm hồn người nghe ngọn gió mới.

Sau đó quán cà phê Văn đâm ra “hắt hủi” cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, vì tính theo tần suất ái mộ, giới SVHS bắt đầu thích nghe “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông” hơn “Gia tài của mẹ”, “Ca khúc da vàng” v.v…

Các nhạc sĩ trẻ Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên đã khai phá nguồn gió mới cho quán Văn, ngược với dòng nhạc và phong cách sáng tác nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn chống chiến tranh. Lúc này giới trẻ SVHS cảm thấy dòng nhạc của các nhạc sĩ trên có lời ca rất lãng mạn trữ tình luôn qua tiếng hát của Thanh Lan. Chính vì vậy Thanh Lan có nhiều lợi thế hơn Khánh Ly vì được giới SVHS ủng hộ đông đảo hơn, một phần do Thanh Lan là sinh viên Văn Khoa và cà phê Văn như sân nhà. Sau đó còn có cặp ca nhạc sĩ Lê Uyên và Phương v…v…

Image

Trịnh Công Sơn – Khánh Ly bắt buộc phải chuyển thể theo trào lưu, không hát nhạc phản chiến, cả hai muốn lấy lại tư thế “người của mọi người” nên chuyển đề tài qua tình ca như dòng nhạc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng hay Ngô Thụy Miên; và Diễm Xưa lại được Khánh Ly thể hiện xem như ca khúc lãng mạn của Trịnh Công Sơn nhằm đối kháng với “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông”, sau Diễm Xưa tiếp tục với Lời Buồn Thánh, Mưa hồng, Biển nhớ, Tình xa, Một ngày như mọi ngày…

Nói như vậy cho thấy Trịnh Công Sơn đi trước về sau qua những bản nhạc tình.

Cuối cùng tôi gặp Trịnh Công Sơn vào trưa ngày 30/4/75 tại Đài phát thanh Sài Gòn. Trưa hôm ấy có lẽ Trịnh Công Sơn muốn đến kêu gọi giới văn nghệ sĩ (vì vẫn coi mình là cái “rún” của nền âm nhạc miền Nam?) bình tĩnh và ủng hộ chính quyền quân quản, còn tôi đến để lấy tin làm báo, vì tờ báo tôi được uỷ quyền còn ra đến số báo đề ngày 2/5/75. Và đúng như bài của Trịnh Cung viết về Trịnh Công Sơn, trưa đó họ Trịnh chẳng nói được lời nào sau micro, còn Tôn Thất Lập có nói gì với họ Trịnh không thì tôi “bó tay” do lúc này ở phòng thu người chật như nêm, ai cũng muốn chen vào muốn “có tiếng nói” làm “ông kẹ ba mươi tháng tư” kể cả tên mặt rô ở chợ Cầu Muối cũng có mặt muốn kêu gọi bạn hàng chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối hợp tác với ban quân quản.

Image

Sau ngày 30/4 ai cũng thấy rõ chiến tuyến của họ Trịnh và Khánh Ly. Quả thật Trịnh Công Sơn phản chiến vì thân cộng, còn Khánh Ly lại thuộc thành phần chống cộng. Có người hỏi tại sao Khánh Ly lại ra đi không cùng họ Trịnh ở lại để hưởng phước lộc trong xã hội chủ nghĩa, khi cả hai từng có công trạng gián tiếp xúi giục mọi người phản chiến, thanh niên trốn quân dịch; vì cả hai như cặp bài trùng?

Khi hỏi cũng đã có câu trả lời, vì khi phong trào du ca không còn tồn tại, chỉ còn nhóm “Hát cho đồng bào tôi nghe” của Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập “hát chui” ở đâu đó. Còn Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã tách ra thành hai, bởi cả hai đâu phải đôi “thanh mai trúc mã”, một người bị chứng bất lực còn một người đang tràn trề sinh lực của lứa tuổi thèm yêu.

Image

Trước đó Khánh Ly đã ấy một đại úy biệt kích to con lực lưỡng làm chồng, còn là một bảo kê cho phòng trà khiêu vũ trường của vợ trên đường Nguyễn Huệ (Queen Bee) sau chuyển qua đường Tự Do (Khánh Ly). Do vậy Khánh Ly phải xa họ Trịnh để đến đất nước của Nữ thần tự do, còn nếu ở lại với lý lịch lấy chồng sĩ quan ngụy quân sẽ bị trù dập “ngóc đầu lên không nổi”.

Tuy vậy khi qua Mỹ, Khánh Ly không còn nhớ đến người chồng biệt kích còn đang học tập cải tạo ở quê hương, liền lấy ngay một ký giả từ Sài Gòn cũng vừa di tản để cả hai tiếp tục hô hào chống cộng.

Còn Trịnh Công Sơn, khoảng thời gian mười năm sau ngày Sài Gòn “đứt phim”, họ Trịnh lại bắt đầu nổi tiếng (?), còn tại sao nổi tiếng khi Trịnh Công Sơn chỉ có những bản nhạc “nhạt như nước ốc” sáng tác cổ động cho phong trào thanh niên xung phong hay học đường theo huấn thị của ông Sáu Dân, việc này mọi người đã biết tôi không nói thêm nữa.

Sự trở lại với nền âm nhạc sau nhiều năm vắng bóng để Xuân Hồng, Trần Long Ẩn… làm mưa làm gió, nên mọi người còn nhớ Trịnh Công Sơn và báo chí lại đưa tên tuổi họ Trịnh lên chín tầng mây. Và mặc dù bị chứng bất lực nhưng cũng có vài con thiêu thân chịu sa ngã để được “dựa hơi”, mong “hơi hám” của họ Trịnh sẽ cho mình chút hư danh, như cô ca sĩ HN vừa loé lên đã tắt lịm, bởi nhạc cũ họ Trịnh thì chưa được hát còn nhạc mới lại nhạt nhẻo chỉ dành cho thiếu nhi hay hát vào mỗi lúc hô “khẩu hiệu”mà thôi.

Biết rằng nhạc không còn hồn, không còn sôi nổi cuốn hút người nghe như thời trước 1975, Trịnh Công Sơn mở quán cà phê trên đường Phạm Ngọc Thạch tức đường Duy Tân cũ, rồi bắt đầu vẽ hươu vẽ nai rồi nhờ mấy tên ký giả cà phê “lăng-xê” nét vẽ không thua gì những Phạm Cung, Trịnh Cung… có người đòi mua cả vài ngàn đô?!. Vậy là hết cuộc đời âm nhạc để rồi chết vì nghiện rượu, mà tác phẩm để lại được mọi người còn nhớ đến toàn nhạc phẩm của những ngày trước 30/4.

Nguyễn Việt

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:37 am), Duyên Chi(Sat Aug 29, 2015 8:23 am), lachong(Sat Aug 29, 2015 2:07 am), Ngô Đồng(Sun Oct 18, 2015 12:30 am)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Lê Uyên Phương và những bản tình ca bất tử

Postby hat@ » Tue Sep 08, 2015 11:06 am

Những tâm tình của Lê Uyên, người còn ở lại của đôi song ca Lê Uyên và Phương, với những bản tình ca đi vào lòng người như: Hãy ngồi xuống đây; Vũng lầy của chúng ta, Chiều phi trường, Không nhìn nhau lần cuối; Lời gọi chân mây...

Lê Uyên Phương và những bản tình ca bất tử

www.youtube.com Video from : www.youtube.com

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:37 am), Duyên Chi(Wed Sep 09, 2015 8:36 am), lachong(Wed Sep 09, 2015 1:47 am), Ngô Đồng(Tue Sep 08, 2015 9:44 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Thơ Tình Cuối Mùa Thu - HÀ ĐA

Postby hat@ » Sat Oct 17, 2015 2:47 pm

Thơ Tình Cuối Mùa Thu

HÀ ĐA

Image

Image
Xuân Quỳnh thuộc thế hệ các nhà thơ nữ xuất hiện và trưởng thành trong thời loạn lạc. Nhưng có lẽ, chị là cây bút sáng tác liên tục và dồi dào hơn cả. Đó thực là một hành trình không mệt mỏi, được thử thách qua thời gian với nhiều chủ đề khác nhau; trong đó, những bài thơ viết về tình yêu để lại nhiều dấu ấn và sự đồng cảm nơi độc giả.

Xuân Quỳnh viết về tình yêu khá sớm. Bạn đọc yêu thơ từng khá quen thuộc với 2 bài thơ nổi tiếng: Sóng, Thuyền và biển. Ẩn trong đó là biết bao xúc cảm với những cung bậc khác nhau của một trái tim yêu. Song đến với thi phẩm Thơ tình cuối mùa thu, chúng ta lại thấy một sắc thái mới giữa vô vàn bản nhạc thuộc “cây đàn muôn điệu” ấy - một tình yêu “tĩnh” trên nền không gian “động”.

Image

Image
Không phải niềm khát khao đến cháy bỏng của con sóng thuở nào: Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Trước biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ? (Sóng), cũng chẳng phải những lo âu phấp phỏng của một trái tim phụ nữ yếu mềm: Em lo âu trước xa tắp đường mình/ Trái tim đập những điều không thể nói (Tự hát); và cũng đâu còn những câu hỏi chất chứa bao băn khoăn, trăn trở kiểu: Đốt lòng em câu hỏi/ Yêu em nhiều không anh? (Mùa hoa rơi) hay những hoài nghi trầm tích: Lời yêu mỏng mảnh như màu khói/ Ai biết lòng anh có đổi thay? (Hoa cỏ may)… đến với Thơ tình cuối mùa thu, người đọc thấy giọng điệu trầm lắng của một trái tim đầy trải nghiệm đã đi qua năm tháng cuộc đời. Dường như, dấu ấn của thời gian đã đem đến cho thơ một độ “chín” nhất định - độ “chín” của nếp cảm, nếp nghĩ và độ “chín” của một tài năng thi ca. Thơ tình cuối mùa thu, do vậy, hấp dẫn độc giả ở giọng điệu sâu lắng, kết tinh của nó. Mở đầu thi phẩm là bước đi thời gian với những chuyển động cuối mùa:

Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu vàng hoa cúc
Chỉ còn anh và em…

Đoạn thơ mở đầu gồm 8 câu thì có đến 7 câu, thi nhân dành trọn nét bút của mình ghi lại sự chuyển động của thiên nhiên, đất trời. Dưới ngòi bút nữ sĩ, người đọc như được ngắm một bức tranh thu với đầy đủ sắc màu và cảnh vật đặc trưng: cỏ cây, dòng nước, mây bay, lá vàng… Tất cả như đang “cựa quậy”, “đi” nhanh về phía trước. Chúng ta cảm nhận được điều này, bởi đoạn thơ sử dụng khá nhiều động từ: mây trắng bay, lá về rừng, mùa thu đi, mùa thu ra,… Bước đi của thời gian ở đây không hối hả, gấp gáp mà lặng lẽ, trầm ấm; song, cũng đủ để chúng ta thấy đó là không gian “động”. Và trong mạch nguồn chuyển động ấy, hình như có một sự “đứng yên”? Chẳng phải ngẫu nhiên, khi nói về tình yêu - ngay từ khổ thơ đầu - Xuân Quỳnh đã dành nhiều công sức để chạm khắc dấu ấn thời gian với “bước đi” của nó. Chỉ đến câu thơ cuối cùng, độc giả mới “vỡ lẽ”: Chỉ còn anh và em. Đến đây, một dấu chấm xuống dòng làm người đọc hụt hẫng; nhưng mạch cảm xúc của nhà thơ vẫn dạt dào tuôn chảy, “tràn” ngay xuống khổ thơ thứ hai - một sự nối tiếp rất hợp lý:

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ

Image
Vâng! Mỗi bước đi của thời gian - dẫu chỉ là chuyển động khẽ khàng từ cảnh vật - đều gắn với một khoảnh khắc khác, không còn là nó. Trong ý nghĩa như vậy, khi đặt bút phác hoạ đôi nét về cảnh thu, tình thu… Xuân Quỳnh muốn đặt “nền” cho lời khẳng định tình yêu đôi lứa. Tình yêu giữa hai người, “anh” và “em” vẫn song hành cùng năm tháng, đi theo mùa thu. Nhưng mùa thu này đi, mùa thu khác lại tới; mà chẳng mùa thu nào giống nhau. Đó là quy luật của tự nhiên, vũ trụ. Còn tình yêu của thi sĩ thì tĩnh lặng, nó có quy luật riêng - quy luật tình người; sự gắn bó, hoà hợp giữa hai tâm hồn cùng những khát khao vĩnh cửu. Và khi những người yêu nhau mang trong trái tim ý niệm về sự vĩnh cửu ấy thì tình yêu trở nên bền vững trước sự thăng trầm của thời gian, dâu bể đời người. Có lẽ, trước khi đặt bút viết Thơ tình cuối mùa thu, Xuân Quỳnh đã đau đáu niềm mong mỏi ấy. Bởi chị từng trải qua quá nhiều đắng cay, tan vỡ trong tình yêu. Và quả thực, “cánh chuồn mỏng manh” kia đã nhiều lần “chấp chới” trong giông bão, rất mong có một ngày bình yên. Dường như nếp nghĩ này đã chi phối phần hồn thi phẩm, nên Xuân Quỳnh không “đi vào” tình yêu qua “nẻo đường” chất vấn, hoài nghi… mà chỉ khẳng định nhẹ nhàng:

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại

Đúng là một tình yêu nhiều kết tinh, sâu lắng và trải nghiệm của một con người “Đã đi đến tận cùng xứ sở/ Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu”.

Xuất phát điểm từ đó, Thơ tình cuối mùa thu không còn là sự đan xen, chằng chéo của những xúc cảm đối lập hay các trạng thái đối cực giữa khắc nghiệt và yên lành, giữa bình yên và bão tố, giữa thuỷ chung và trắc trở, giữa hạnh phúc và lo âu… mà đã mang gam màu của một tình yêu vững chãi, bền bỉ:

Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa bão gió
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ
Thời gian như là gió
Mùa thu theo tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em.

Image

Thật là những câu thơ trong sáng và giản dị! Sự chân thành, lắng sâu trong suy nghĩ đã giúp Xuân Quỳnh có nét riêng khi viết về tình yêu - đơn giản, song không kém phần đằm thắm, lôi cuốn. Ta bắt gặp trong Thơ tình cuối mùa thu không phải cái tôi trữ tình nhiều trăn trở - nó là cái ta, sự hoà quyện tình yêu giữa [b]“anh” và “em”. Một nét đặc sắc trong hệ thống chùm thơ viết về tình yêu của nữ sĩ. Ở đây, Xuân Quỳnh không “tự hát” mà ngợi ca, khẳng định tình yêu vĩnh cửu giữa hai người sau nhiều thử thách:

Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa bão gió
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ

Image
Những “gió bão”, “thác lũ”… tượng trưng cho sự nghiệt ngã trong cuộc đời mỗi con người. Và trong tình yêu, người ta phải đối mặt với nó như một thử thách. Xuân Quỳnh khéo léo sử dụng các hình ảnh so sánh gần gũi, khiến độc giả có sự đồng cảm lớn khi tiếp cận thơ chị. Chị định nghĩa tình yêu thật giản dị: “như hàng cây”, “như dòng sông”. Cách nói về tính chất của tình yêu cũng thật nhẹ nhàng, đằm thắm: “đã qua”, “đã yên”… Vâng! Những dòng sông của nước, những hàng cây của đất vẫn không ngừng chuyển động theo nhịp quay của vũ trụ, tạo hóa. Bởi “thời gian như là gió” kia mà! Làm sao các sự vật, hiện tượng quanh ta có thể ngưng đọng được? Chỉ duy nhất một điều sẽ ở lại, còn lại - là tình yêu giữa “anh và em”. Xuân Quỳnh nói đến trạng thái lưu động của bốn mùa, của tuổi tác: “Thời gian như là gió/ Mùa đi cùng tháng năm/ Tuổi theo mùa đi mãi”; nhưng cũng là để nói đến tình yêu đang chờ đón ở phía trước. Vô hình chung, mọi chuyển động của không gian, thời gian đều trở nên nhạt nhòa, không còn nghĩa lý gì trước một tình yêu vĩnh viễn:

Chẳng còn thời gian, chẳng còn không gian
Chỉ tuổi trẻ, tình yêu vĩnh viễn

(Thơ tình cho bạn trẻ)

Thật hiếm hoi, trong một bản nhạc viết về tình yêu của Xuân Quỳnh, lại có những âm hưởng và giai điệu dường như trở nên “lạc điệu”. “Lạc điệu” ở chỗ khi tác giả tấu lên bài ca luyến ái, nó chẳng còn mang dáng dấp của những cung bậc như người ta vẫn nghĩ về thơ tình Xuân Quỳnh: toàn lo âu, trắc trở; toàn bất hạnh, khổ đau của một cái tôi nhỏ nhoi, tội nghiệp - luôn sợ trái tim “lỡ nhịp” yêu đương… Đến Thơ tình cuối mùa thu, Xuân Quỳnh đã “hát” khúc ca thật khác lạ. Đoạn kết ngân lên nhẹ nhàng, nhưng gửi gắm phía sau con chữ là cả một niềm tin:

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may

Image

Hình như, toàn bộ nỗi niềm trong Thơ tình cuối mùa thuXuân Quỳnh gửi lại với thời gian ấy, chỉ chất chứa vẹn nguyên một thông điệp - kết tinh từ một tình yêu đầy trải nghiệm, vững chắc. Điệp khúc “Chỉ còn anh và em” được nhắc đi nhắc lại suốt “chiều dọc” bài thơ, trở thành cảm hứng chủ đạo. Trước khoảnh khắc chuyển giao của đất trời, người ta hay mang nhiều suy tư, cảm xúc. Đặc biệt, tiết thu với sắc lá vàng rơi, gió heo may, chút chớm lạnh của thời tiết… càng dễ khơi gợi trong lòng người nghệ sĩ, tạo nguồn cảm hứng lớn cho sáng tạo nghệ thuật.

Có thể nói, dẫu khép Thơ tình cuối mùa thu lại, thi phẩm vẫn có sức ám ảnh đến kỳ lạ. Và mỗi lần, chợt nghe đâu đây ngân lên khúc hát (nhạc Phan Huỳnh Điểu): Chỉ còn anh và em/ Cùng tình yêu ở lại, người đọc lại thấu rưng rưng một nỗi niềm xúc động. Quả là hợp lẽ khi có người đã nhận định về thơ Xuân Quỳnh rằng: “Cái khát vọng tình yêu từng thiêu đốt Xuân Quỳnh cũng thiêu đốt luôn cả người đọc nó”.

HÀ ĐA


Thơ Tình Cuối Mùa Thu - Bảo Yến

www.youtube.com Video from : www.youtube.com

Thơ Xuân Quỳnh - Nhạc Phan Huỳnh Điểu

Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa Thu đi cùng lá
Mùa Thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh môg
Mùa Thu vàng hoa cúc
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Là của mùa Thu cũ
Chỉ còn anh và em

Tình ta như hàng cây
Đã yên mùa bão gió
Tình ta như dòng sông
Đã yên mùa thác lũ
Thời gian như ngọn gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...

Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:38 am), Duyên Chi(Sun Oct 18, 2015 5:25 am), lachong(Sun Oct 18, 2015 1:22 am), Ngô Đồng(Sun Oct 18, 2015 12:31 am)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa...” - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby hat@ » Wed Nov 18, 2015 2:26 pm

Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa...”

Cát Linh, phóng viên RFA
14-11-2015



Image

Nhạc sĩ Anh Bằng. Courtesy photo

“Dòng nhạc Anh Bằng”

Nền âm nhạc Việt Nam lại thêm một lần khoác chiếc khăn sô, cúi đầu tiễn biệt người nhạc sĩ mà mỗi khi nhắc về Hà Nội, người ta thầm thì ca khúc Nỗi lòng người đi; mỗi khi muốn nói về thân phận người trên con đường đi về bên kia thế giới, người ta hát lên “Khúc Thuỵ du”; mỗi khi nói về lính trận xa nhà, người ta hát lên “Nửa đêm biên giới”... Nói chung, khi nói về nhạc của ông, người ta hay gọi là “dòng nhạc Anh Bằng”.

Chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này, mời quí vị đến với những ca khúc bất hủ của ông, cố nhạc sĩ Anh Bằng, người vừa ra đi sau 8 năm chống chọi với bệnh tật.

“Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi
Thuỵ ơi và tình ơi...” (Khúc thụy du)

Những lời ca, giai điệu ám ảnh của giây phút đi về cái nơi gọi là “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê) trong Khúc Thuỵ Du, được cố nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Du Tử Lê, giờ đây vô hình trung trở thành bài ca tiễn biệt ông.

Lại thêm một người nữa ra đi...

Lại thêm một tài hoa thuộc thế hệ vàng son của nền âm nhạc nước nhà từ biệt nghiệp dĩ...

Năm 1954, trong gần một triệu bước chân của người Việt di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, có một chàng thanh niên 28 tuổi tên Trần Anh Bường, mang theo một chiếc vali hành trang chất đầy nỗi nhớ quê hương quay quắt. Đường xa vạn dặm. Nỗi nhớ ấy khi đối diện với Sài Gòn xa lạ, đèn hoa rực rỡ đã trở thành ca khúc “Nỗi lòng người đi” được ký tên nhạc sĩ Anh Bằng.

“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi nào biết ra sao bây giờ?
Ai đứng trông ai ven hồ
Khua nước trong như ngày xưa...” (Nỗi lòng người đi)

Nỗi lòng người đi không phải ca khúc đầu tay của cố nhạc sĩ Anh Bằng. Ca từ trau chuốt, đẹp như thơ đã nhẹ nhàng lột tả trọn vẹn tình cảm, thân phân phận của con người trong một biến cố lịch sử. Mấy mươi năm sau, ca khúc này vẫn tiếp tục đi vào lòng những thế hệ tiếp nối, nói lên nỗi niềm chung của những người xa quê. Để rồi cho đến tận bâ giờ, không cần phải là người Hà Nội, mà chỉ khi muốn nhắc về Hà Nội thì người ta sẽ hát lên bài hát này.

Nửa đêm biên giới

Image

Nhạc sĩ Anh Bằng. Courtesy photo.

Nhạc của cố nhạc sĩ Anh Bằng là dòng nhạc quê hương, thân phận và tình yêu. Ông dung hoà tất cả những lĩnh vực đó trong nhạc của mình bằng một trái tim nhẹ nhàng và bao dung. Ông viết về quê hương mình như chứng nhân của thời chiến tranh loạn lạc, kêu lên tiếng kêu trăn trở của người con đi lính trận xa nhà, nhớ mẹ trong những đêm đóng quân vùng biên giới.

“Mẹ ơi... biên cương giờ đây
Trời không... mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe... gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang
Khèn trong.... buôn xa còn vang
Nhịp chìm... tiêu sơ nhặt khoan
Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
Con... hát ca vui lều tranh nghèo
Ôi đẹp làm sao...” (Nửa đêm biên giới)

Rồi cũng chính ông, đã nói lên cả nỗi niềm nhung nhớ của người lính trận xa gia đình, xa người vợ hiền ngoan.

“Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,
từng lũy tre muộn phiền.
Tôi có người vợ ngoan.
Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau…”(Chuyện giàn thiên lý)

Ông viết về tình ca nhẹ nhàng, chân thành mang lời thú tội của kẻ si tình. Những ca từ đẹp như thơ, nhưng không ngại ngùng để toát lên cái đẹp trần tục, cái đẹp nhân danh bản ngã của con người.

“Anh còn yêu em như rừng lửa cháy
Anh còn yêu em như ngày xưa ấy
Chiều xuống mờ sương
Cửa đóng rèm buông
Gối kề bên gối
Môi kề bên môi

Anh còn yêu em đường xanh ngực nở
Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ
Bạch đàn thâu đêm
Bạch đàn thâu đêm
Thầm thì tóc rũ
Anh còn yêu em…” (Anh còn yêu em)

Tình yêu trong nhạc của Anh Bằng khi thì cháy bỏng, nồng nàn với “rèm buông, ngực nở”, với “gối kề gối, môi kề môi”; khi thì thanh thoát như cõi thiên đường.

“Khi áng mây cao đừng trên nếp trán.
Anh chợt nghe tình vỗ cánh baỵ
Trái tim anh hờn dỗi trên vaị
Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy

Bỗng mùa xuân về trên năm ngón.
Trên bàn tay lộc biếc lá non.
Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em.
Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc…” (Kỳ diệu)

Anh còn nợ em

Rồi cũng có khi ông hoá thân vào cuộc tình không trọn vẹn, thốt lên lời thú tội của kẻ tình si không thể thực hiện được điều mình đã hứa, dù là điều đơn giản nhất trong cuộc sống. Cái tài hoa của Anh Bằng là đây. Từ những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc, và cách lặp lại mỗi câu hai lần trong một đoạn nhạc, cố nhạc sĩ đã nói lên nỗi niềm trăn trở của một cuộc tình nguyên sơ, cháy bỏng.

“Anh còn nợ em
Công viên ghế đá
Công viên ghế đá
Lá đổ chiều êm

Anh còn nợ em
Dòng xưa bến cũ
Dòng xưa bến cũ
Con sông êm đềm

Anh còn nợ em
Chim về núi nhạn
Trời mờ mưa đêm
Trời mờ mưa đêm…”(Anh còn nợ em)

Có lẽ vì vậy mà bất cứ một chủ đề nào thuộc về ca khúc do ông sáng tác, người nghe cũng dễ dàng soi thấy một phần cuộc đời của mình trong ấy. Nhạc của ông gần gũi, chan hoà với tất cả thế hệ. Với hơn 600 ca khúc để lại cho đời, một khối lượng sáng tác không nhỏ. Nhà văn Nguyễn Đông Thức, từ Sài Gòn cho biết ông rất nể phục và ngạc nhiên về sức sáng tác cũng như dòng nhạc đa dạng của cố nhạc sĩ Anh Bằng:

“Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi...”

“Qua Mỹ ông vẫn phổ thơ, phổ nhạc những bài thơ của tác giả ở Việt Nam, không có gì ngại ngần hết. Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung cộng, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.”


Thật như vậy, khi qua đến Hoa Kỳ năm 1975, không những ông tiếp tục cho ra đời rất nhiều những ca khúc giá trị và đi vào lòng người đến mãi tận hôm nay, mà ông còn là người sáng lập trung tâm Asia, một trong hai trung tâm ca nhạc lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Có lẽ giờ này ông đã hội ngộ với những bằng hữu của mình nơi xa xôi đó. Này là Phạm Duy, là Trầm Tử Thiêng, kia là Lê Uyên Phương, là Trịnh Công Sơn... Ông đang cùng mọi người hàn huyên về một cố đô xa vời vợi, một Sài Gòn hoa lệ, diễm tình chỉ còn là kỷ niệm.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:38 am), Duyên Chi(Thu Nov 19, 2015 6:12 am), lachong(Thu Nov 19, 2015 1:48 am), Ngô Đồng(Wed Nov 18, 2015 6:09 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Re: Tản Mạn về NHẠC SĨ, CA SĨ và NHẠC PHẨM

Postby Duyên Chi » Thu Nov 19, 2015 8:02 am

Chia Tay Hư Ảo (Thơ B.H. Nhạc Anh Bằng )- được sáng tác trong năm 2012, là một trong mười ca khúc trữ tình chọn lọc trong số những sáng tác trong những năm tháng cuối đời của nhạc sĩ Anh Bằng.

Theo lời anh Trần Khải người cháu gần gũi, thân thiết nhất của nhạc sĩ Anh Bằng nói: , đây là mối duyên nợ bất ngờ, một ca sĩ trẻ của Trung tâm Asia, được trao phó một số ca khúc trữ tình, nói lên nỗi khát vọng thiết tha với cuộc sống này. Mang mác qua "Trong Cõi Tình Ta", "Lời Khẩn Cầu Vụng Dại, "Đừng Xa Nhau", "Thiên Thần Lạc Loài" hoàn tất năm 2015 (từ ý thơ Thiên Sứ Lạc Loài-2007).

Vào lúc 8 giờ 55 phút tối thứ Năm 12-11-2015, linh hồn Giuse Anh Bằng đã từ giã người thân yêu , "Để Về Bên Ấy"- chắc chắn không quên "Thời Si Mê" để lại một kho tàng âm nhạc , và những cống hiến sắt son cho quê hương.

Ca khúc "Chia Tay Hư Ảo" được chọn trong một CD 10 ca khúc Anh Bằng với tiếng hát Melanie NgaMy chưa được phát hành.

Dù vậy, đúng vào ngày giờ nhạc sĩ Anh Bằng về cõi Vĩnh Hằng Ca khúc Chia Tay Hư Ảo được gửi đi trao tặng khán thính giả từng yêu mến nhạc sĩ Anh Bằng nhớ về ông... Lồng vào những lời đẹp tha thiết chân tình gần gũi của âm điệu của ca khúc, chúng ta còn nghe như tiếng gió gào hú đưa tiễn và 3 hồi chuông giáo đường tiễn đưa chậm rãi đến mênh mông (TMC).


Chia Tay Hư Ảo - Melanie NgaMy

www.youtube.com Video from : www.youtube.com

Chia tay ngày cuối cùng
Tưởng cách xa ngàn trùng
Sợ cuộc tình sẽ mất
Tiếc ngày xuân phôi pha

Hiên xưa phơi áo mỏng
Thầm nhắc nhau trở về
Tròn vầng trăng trong sáng
Có em luôn chờ mong

ĐK: Một thời nào đắm say
Chiều hát câu nhớ người
Thương môi cười kề vai
Hứa nâng niu một đời

Ngày nào ta gần nhau
Ước mơ vui trọn đời
Mà nay cách xa rồi
Từng ngày nhớ khôn nguôi

Chiều nay em đi rồi
Mênh mang ... mùa mưa tới
Xin tháng ngày thôi trôi
Đưa tình về chốn cũ

Tựa chiêm bao nhạt nhòa
Chia nỗi sầu hư ảo
Một mai về bên ấy
Nhớ thương thời si mê

(2) Một thời nào đắm say
Chiều hát câu nhớ người
Thương môi cười kề vai
Hứa nâng niu một đời

Ngày nào ta gần nhau
Ước mơ vui trọn đời
Mà nay... cách xa rồi
Từng ngày nhớ khôn nguôi

Chiều nay em đi rồi
Mênh mang ... mùa mưa tới
Xin tháng ngày thôi trôi...
Đưa tình về chốn cũ

Tựa chiêm bao nhạt nhòa
Chia nỗi sầu hư ảo
Một mai về bên ấy
Nhớ thương thời si mê ...
Một mai về bên ấy
Nhớ thương thời si mê

For this message the author Duyên Chi has received thanks: 5
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:38 am), DIEU DUC(Thu Nov 19, 2015 10:56 pm), hat@(Thu Nov 19, 2015 10:24 am), lachong(Fri Nov 20, 2015 1:20 am), Ngô Đồng(Thu Nov 19, 2015 7:07 pm)
Rating:31.25%
 
Duyên Chi
 
Posts: 7372
Images: 33
Joined: Wed Sep 01, 2010 7:03 am
Has thanked: 33943 times
Have thanks: 25834 times

Anh Bằng, tôi còn nợ anh - Nguyễn Bá Chổi (Danlambao)

Postby hat@ » Fri Nov 20, 2015 2:07 pm

Anh Bằng, tôi còn nợ anh

Image

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Nhạc sĩ Anh Bằng vừa đi hết đường trần. Chẳng hay, cho đến khi nằm xuống, người nhạc sĩ tài hoa luôn nặng lòng với quê hương đã trả xong chưa, cho ai đó, những món nợ như “Công viên ghế đá, lá đổ chiều hôm”, như “Dòng sông bến cũ, con sông êm đềm”, như “Chim về núi nhạn, trời mờ mưa đêm”, như “Nụ hôn vội vàng, nắng chói qua rèm”(1), như “Con tim bối rối”“Cuộc tình đã lỡ”. Nhưng tôi thì còn nợ anh Anh Bằng.

Món nợ tôi với Anh chỉ có một mình tôi biết, một mình tôi hay.


Món nợ ấy tôi tự “manh nha” (chuốc) lấy cho mình sau khi được nghe lần đầu tiên, trong một đêm dừng quân ở bên kia biên giới Việt Miên, dưới chân dãy núi Thất Sơn, bài hát “Nỗi lòng người đi” của nhạc sĩ.

“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương
thành khói tan theo mây chiều
Khèn trong.... buôn xa còn vang"

***

Ngày ấy, tôi nghĩ, chẳng biết đúng hay sai, “Nàng” trong bài hát chỉ là cái cớ cho Anh dàn trải nỗi lòng khi phải rời xa Hà Nội. Ấy cũng là nỗi lòng của triệu người dân Miền Bắc phải bỏ lại quê cha đất tổ để xuôi Nam, thời 1954.

Thuở Anh “xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu” với "Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương" tan thành mây khói, thì tôi tuy chỉ là một cậu bé lên mười cũng đã biết ngậm ngùi xa Hà Tịnh với bao kỷ niệm dù chẳng mấy khi được êm đềm của tuổi ấu thơ.

Cảm ơn Anh, “Nỗi lòng người đi” của Anh đã đánh thức tôi, làm sống dậy trong tôi một quê hương đã bỏ lại.

Tình tự quê hương ấy lại càng được khơi dậy thấm thía nồng nàn hơn khi đoàn quân đang qua đêm ở ven bên này hay bên kia bên giới mở cái radio Sony trong lòng bàn tay, nghe được lời Anh:

“Mẹ ơi... biên cương giờ đây
Trời không... mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe... gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang
Khèn trong... buôn xa còn vang
Nhịp chìm... tiêu sơ nhặt khoan
Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
Con... hát ca vui lều tranh nghèo
Ôi đẹp làm sao...” (2)

Càng thôi thúc tôi...

Ngày đó, tôi đã hứa rằng tôi sẽ trở về. Không phải về trong áo gấm, mà ngồi trên chiến xa trong đoàn quân Nam giải phóng đất Bắc khỏi thảm họa Cộng Sản. Nhưng tôi đã không thực hiện được lời hứa, như Anh đã làm được với Sài Gòn tưởng rằng Anh đã vĩnh biệt (3).

Bây giờ thì Anh đã nằm xuống. “Về bên kia thế giới”, Anh chẳng “sẽ lấy lại được gì, ngoài trống vắng mà thôi”, như “Khúc thụy du”.

“Nỗi lòng người đi” nơi Anh giờ chẳng còn nghĩa gì, nhưng tôi vẫn còn nợ Anh, đã giữa đường gẫy súng, đã không thể đưa Anh về lại Đất Bắc để chàng trai Hà Nội thanh lịch ngày nào trở về “ân ái trao nàng mấy câu”(4) Nỗi lòng người đi.

Tôi xin mượn “Khúc thụy du” lời Du Tử Lê, nhạc Anh Bằng để thay lời chào vĩnh biệt Anh, và

Nguyện xin Chúa nhân lành đón nhận linh hồn Giu Se Nguyễn An Bường vào nước Trời.


Image
Nguyễn Bá Chổi
http://danlambaovn.blogspot

_____________________________________

Ghi chú:

(1) Anh còn nợ em.
(2) Nửa đêm biên giới.
(3) Sài Gòn vĩnh biệt.
(4) Nỗi lòng người đi.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:39 am), Duyên Chi(Sat Nov 21, 2015 7:01 am), lachong(Sat Nov 21, 2015 10:34 am), Ngô Đồng(Fri Nov 20, 2015 6:43 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Re: Tản Mạn về NHẠC SĨ, CA SĨ và NHẠC PHẨM

Postby Ngô Đồng » Sun Nov 22, 2015 1:53 am

Vụ ĂN CẮP TÁC QUYỀN CỦA NHẠC SĨ ANH BẰNG , dàn dựng rất ngây thơ, ấu trĩ, lại thấy bóng dáng của tên Nguyễn Thụy Kha chuyên nghiệp đặt giả thiết bịa đặt để tiếp tay cho việc ăn cắp tác quyền, dựa vào thời buổi loạn ly khi mà giấy mực, băng đĩa đã lưu hành liên tục trên nửa thế kỷ.

Chuyện khôi hài đen là kẻ nhận vơ là tác giả bịa ra chuyện đưa người yêu ra "tầu há mồm" bằng 1thuyền nhỏ vì tàu này đậu ngoài khơi. Nhân vật này lầm với tình trạng dân SG vượt biên năm 75 bởi tàu vượt biên luôn ở ngoài khơi, cho nên luôn phải có ghe nhỏ làm taxi đưa ra tàu chính.

Còn tàu "há mồm" năm 54 thì dân di cư bắt buộc phải đến "căng nội thành", ở đó làm thủ tục giấy tờ, cả tuần mới được xuống tàu, đậu ngay tại bến, làm gì có chuyện đi thuyền nhỏ ra .

Nguyễn Thụy Kha muốn nhận "ăn chia" vụ này thì nên điều nghiên kỹ rồi hấp tấp vẽ tiểu thuyết lãng mạn hư cấu , làm xấu mặt giới văn nghệ sĩ HÀ NỘI đã vốn mang nhiều tai tiếng :
'' XIN CHẤM DỨT VIỆC BIẾN NGƯỜI LÀM VĂN HÓA HÀ NỘI THÀNH NHỮNG KẺ GIAN DỐI CHUYÊN ĐI ĂN CẮP TIM ÓC NGƯỜI KHÁC ''

Ai Ở Việt Nam Muốn Đánh Cắp "NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI" CỦA NHẠC Sĩ ANH BẰNG ?

www.youtube.com Video from : www.youtube.com

For this message the author Ngô Đồng has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:39 am), Duyên Chi(Wed Nov 25, 2015 10:19 am), hat@(Sun Nov 22, 2015 11:20 am), lachong(Sun Nov 22, 2015 7:42 am)
Rating:25%
 
User avatar
Ngô Đồng
 
Posts: 4848
Images: 0
Joined: Mon Aug 16, 2010 4:50 am
Has thanked: 31301 times
Have thanks: 17233 times

Thánh lễ an táng cố nhạc sĩ Anh Bằng

Postby hat@ » Tue Nov 24, 2015 2:59 pm

Nhạc sĩ Anh Bằng sau khi qua đời tại miền nam Cali vào ngày 12/11/2015, và linh cửu của ông đã được quàn tại Westminster Memorial Park vào hai ngày thứ Năm 19 cho tới thứ Sáu 20 tháng 11 để các thân hữu và đồng hương tới phúng viếng ông lần cuối. Và vào lúc 1 giờ chiều Thứ Bảy 21/11/2015 linh cửu của ông đã được mang tới thánh đường St. Barbara để cử hành thánh lễ an táng và sau đó được chôn cất tại nghĩa trang "Chúa Chiên Lành".

Thánh lễ an táng cố nhạc sĩ Anh Bằng

www.youtube.com Video from : www.youtube.com

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:40 am), Duyên Chi(Wed Nov 25, 2015 10:19 am), lachong(Wed Nov 25, 2015 1:29 am), Ngô Đồng(Tue Nov 24, 2015 5:43 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Chương trình ca nhạc Tưởng niệm nhạc sĩ ANH BẰNG (1926 - 2015)

Postby hat@ » Tue Dec 01, 2015 2:47 pm

Thân mời Duyên Chi, Ngô Đồng, BinhMinh, lachong và các bạn cùng theo dõi Chương trình ca nhạc Tưởng niệm nhạc sĩ ANH BẰNG được tổ chức tại studio SBTN ÚC CHÂU. Các bạn phải có nhiều thời gian mới xem hết được vì videoclip dài 3g00'55".

Chương trình ca nhạc Tưởng niệm nhạc sĩ ANH BẰNG (1926 - 2015)

www.youtube.com Video from : www.youtube.com

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:45 am), Duyên Chi(Wed Dec 02, 2015 1:00 am), lachong(Thu Dec 03, 2015 7:03 am), Ngô Đồng(Tue Dec 01, 2015 5:35 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Re: Tản Mạn về NHẠC SĨ, CA SĨ và NHẠC PHẨM

Postby hat@ » Wed Dec 02, 2015 1:23 pm

Chim BẰNG vút cánh bay…

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

Image

Giữa khuya tôi tỉnh giấc
Tưởng mình còn quê hương.
Rồi thêm tin Anh mất
Thơ-Nhạc nghẹn đêm trường !

Lặng nhìn ra khung cửa
Hiu hắt một màn sương.
Thêm một người đi nữa
Vừa khuất bóng bên đường.

Vai hành trang còn nặng gánh tang thương
Bao năm rồi nhạc Anh dìu chung bước.
Ngày mai đây, vạn nẻo đường xuôi ngược
Tôi tìm Anh, chung thế hệ, còn đâu ?
“Nỗi lòng người đi” cung nhạc đã hằn sâu (*)
Trong tâm khảm, thêm niềm đau lẻ Bạn.
Tuổi già nua, lệ tôi đà khô cạn
Giữa trời khuya còn ứa giọt về Anh.
Tình Huynh-Đệ song vai bước Đồng Hành
Chung tâm sự của người dân mất Nước.
Anh “Xa Hà Nội” từ bao năm trước
Đến tàn hơi, nhạc vẫn mộng về Quê.
Trời lưu vong, lòng thao thức tỉnh-mê
Không cúi mặt dù nỗi đau viễn xứ.
Tôi ngồi bên Anh, đổi trao tâm sự
Nhạc Hội buồn, đồng đội Thương Binh. (*)
Hồn loang máu từ một thuở chiến chinh
Qua tiếng nhạc tưởng chừng nghe tiếng khóc.
Khóc Quê Hương đang chìm sâu tang tóc
Cung phím buồn vời gọi “Gót Chinh Nhân” (*)
Đường Anh đi, qua bao nẻo phong trần
Luôn Tâm nguyện thuyền về neo bến cũ.
Giờ chia tay, nhạc chìm theo thác lũ
Giữa hồn tôi, đêm tối bóng Anh đâu ?
Thêm người đi, dù chấp nhận bể dâu
Nhưng cố níu, Vô Thường sao đến vội !
Qua bao đường, cuối đời Anh rẽ lối
Trao tình hoa phím nhạc gửi ngàn sau.
Dù đêm nay bóng hạc đã chìm sâu
Tôi vẫn thấy chim BẰNG tung vút cánh.
Xin tạ từ ! – Giữa ngàn sao lấp lánh
Một vì sao rụng xuống, hướng trời Quê
90 năm theo tiếng nhạc, Anh về …. !

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

(Kính tiễn đưa Hương Hồn Nhạc Sĩ ANH BẰNG
, ra đi ngày 12.11.2015)

Úc Châu, 12 giờ khuya đêm 14.11.2015.

(*) – Tên các bản nhạc của NS. Anh Bằng.

(*) – Trong một buổi Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh – Người Thương Binh VNCH – tổ chức tại Nam Cali, Hoa Kỳ, tôi ngồi bên cạnh NS Anh Bằng và Nhiếp Ảnh Gia Quân Đội Nguyễn Ngọc Hạnh.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:45 am), Duyên Chi(Thu Dec 03, 2015 3:09 am), lachong(Thu Dec 03, 2015 7:02 am), Ngô Đồng(Thu Dec 03, 2015 4:03 am)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Đêm nhạc tưởng niệm cố nhạc sĩ Anh Bằng

Postby hat@ » Mon Dec 14, 2015 3:06 pm

Thứ Sáu ngày 11/12/15, câu lạc bộ Tình Nghệ Sĩ đã tổ chức đêm nhạc tưởng niệm cố nhạc sĩ Anh Bằng tại hội trường VNCR vào lúc 6 giờ 30 tối. Tất cả các anh chị em nghị sĩ đã cùng nhau ôn lại những kỷ niệm, tình cảm qua hơn 600 ca khúc của nhạc sĩ Anh Bằng. Đặc biệt, hoạ sĩ Châu Thụy đã mang đến đêm nhạc một tác phẩm vẽ khuôn mặt của nhạc sĩ Anh Bằng với gần 200 tên các nhạc phẩm của ông. Mời quý vị cùng theo dõi phóng sự sau đây.

Đêm nhạc tưởng niệm cố nhạc sĩ Anh Bằng

www.youtube.com Video from : www.youtube.com

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:46 am), Duyên Chi(Tue Dec 15, 2015 1:23 am), lachong(Tue Dec 15, 2015 5:22 am), Ngô Đồng(Mon Dec 14, 2015 4:05 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

"Cho Người Vào Cuộc Chiến" - Cao-Đắc Tuấn (Danlambao)

Postby hat@ » Wed Apr 13, 2016 2:22 pm

"Cho Người Vào Cuộc Chiến"

Image

Cao-Đắc Tuấn (Danlambao) - Tóm lược: Ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến," ra đời năm 1971 tại miền Nam Việt Nam, là lời tâm sự một cô gái bày tỏ cho người yêu đi lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nơi vùng chiến trận xa xôi. Bài hát có nội dung tương tự như "Chinh Phụ Ngâm" của Đặng Trần Côn và ca khúc "Xa Vắng" của Y Vân, nhưng có nhiều điểm khác biệt quan trọng, nhất là về khía cạnh cao thượng và tế nhị của mối tình cô gái dành cho người yêu. Bải hát có giai điệu chậm êm dịu với chuyển tiếp lên cao trong điệp khúc nhấn mạnh lời hứa hẹn chung thủy. Với cách dùng chữ đơn giản, so sánh ngầm, và điệp ngữ, bài hát tạo tác dụng hữu hiệu trên khán giả. Ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" nói lên đức tính nhẫn nại, thương yêu, và chung thủy của đa số phụ nữ miền Nam trong thời chiến.

*

Ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" là một bài hát thịnh hành trong miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1970. Bài hát ra đời năm 1971, khi cuộc chiến tại miền Nam đang bước sang giai đoạn khốc liệt (sau trận Tết Mậu Thân năm 1968 và trước Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972). Trong khoảng thời gian này, lệnh Tổng động viên được ban hành, kêu gọi thanh niên thi hành nghĩa vụ quân dịch. Những cậu trai 17-18 tuổi, nếu không được hoãn dịch vì lý do gia cảnh, sức khỏe, hoặc học vấn, phải gia nhập quân đội. Hàng ngàn học sinh, sinh viên trong tuổi quân dịch phải bỏ dở việc học hành lên đường làm nghĩa vụ công dân. Biết bao nhiêu chuyện tình trong cuộc chiến phải dở dang vì chàng trai phải đi lính. Những cô gái có người yêu ra đi thường phải chịu cảnh cô đơn trong thời gian xa vắng người yêu, như người chinh phụ chờ chồng đi đánh giặc ngoài biên ải xa xôi trong "Chinh Phụ Ngâm Khúc." Ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" nói lên tâm trạng một cô gái chấp nhận việc cho người yêu cô "vào cuộc chiến" và lời tâm tình của cô dành cho người yêu.

Tác giả của "Cho Người Vào Cuộc Chiến" ghi trên tờ nhạc gốc là Phan Trần. Phan Trần là tên ghép của Phan Công Thiệt và Trần Nhật Ngân. Phan Công Thiệt, còn có bút hiệu là Mặc Thế Nhân, viết nhạc và nhờ Trần Nhật Ngân, hay nhạc sĩ Nhật Ngân, sửa lại lời. Ta không rõ phần đóng góp thực sự của mỗi người như thế nào, nhưng vì cả hai hợp tác với nhau, ta nên coi họ là đồng tác giả. Sau đây tôi chỉ trình bày vắn tắt tiểu sử của Mặc Thế Nhân (Wikipedia 2015). Trong bài trước (Cao-Đắc 2014a), tôi đã trình bày tiểu sử của nhạc sĩ Nhật Ngân. Trong bài này, tôi dùng "tác giả" để chỉ cả Mặc Thế Nhân và Nhật Ngân.

Mặc Thế Nhân tên thật là Phan Công Thiệt, sinh năm 1941 ở Gò Vấp, tỉnh Gia Định trong một gia đình tầng lớp trung lưu. Ông cho biết bút danh Mặc Thế Nhân có nghĩa là "Góp giọt mực cho đời." Ngoài ra ông còn có bút hiệu khác là Nhã Uyên.

Năm 17 tuổi, ông học nhạc lý từ các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Hùng Lân tại Trường Ca Vũ Nhạc Phổ thông Sài Gòn. Hai năm sau ra trường, ông gia nhập ban Hoa Niên. Ngoài ra ông còn cộng tác với ban nhạc Xuân Bình trình diễn nhạc trên đài truyền thanh. Ngoài các hoạt động âm nhạc và lưu diễn, ông còn là ký giả tân nhạc kịch trường cộng tác với nhật báo Lẽ Sống, tuần báo Bình Dân với bút hiệu Mộng Thu, Giang Ái Sĩ. Ngoài ra, ông còn thực hiện băng nhạc Nhã Ca và mở lớp nhạc tại Đakao.

Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm có "Trăng Quê Hương," "Vui Tàn Ánh Lửa," "Em Về Với Người," "Mùa Xuân Cưới Em," v.v. Các bài ký tên Phan Trần gồm có "Cho Vừa Lòng Em," "Một Lần Dang Dở," và "Cho Người Vào Cuộc Chiến."

Sau ngày cộng sản Bắc Việt chiếm đóng miền Nam, ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông ở lại Việt Nam.

Nguyên văn lời bài hát "Cho Người Vào Cuộc Chiến" như sau (Xem, Hợp Âm Việt):

Anh bỏ trường xưa, bỏ áo thư sinh
theo tiếng gọi lên đường
Anh đi vì đất nước khổ đau
Anh đi anh quên thân mình
Em vì anh tóc bới chẳng lược cài
Thôi điểm trang, má phấn chẳng cần dồi
Xa phồn hoa với những chiều dập dìu
Cho anh vững lòng anh đi.

Đêm rồi lại đêm, một bóng đơn côi
em nhớ người phương trời
Tâm tư chẳng biết nói cùng ai
Đơn sơ em ghi đôi dòng
Mong người đi giữa súng đạn chập chùng
Xin hiểu cho giữa cát bụi thị thành
Bao giờ em cũng vẫn bền một lòng
Thương anh suốt đời anh ơi!

Mai kia anh trở về, anh trở về
Dẫu rằng dẫu rằng không còn vẹn như xưa
Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ
Dù anh trở về bằng chiếc xe lăn
Hoặc anh trở về bằng chiến công đầy
Tình em vẫn chẳng đổi thay

Anh giờ ở đâu?
Đồi núi cao nguyên hay cuối miền sông hậu?
Đêm nay ở đó gió lạnh không?
Sương khuya có giăng giăng đầy?
Phương này em với những lời nguyện cầu
Cho người đi sẽ có ngày trở về
Cho tình ta thắm thiết tựa ngày đầu
Xin cho chúng mình còn nhau.


www.youtube.com Video from : www.youtube.com

Trong bài này, như thường lệ, tôi sẽ thảo luận về các khía cạnh của bài hát, nội dung và hình thức. Tôi dùng "khán giả" để chỉ người nghe, người đọc, và người xem.

A. "Cho Người Vào Cuộc Chiến" là "Chinh Phụ Ngâm" ở thế kỷ thứ 20, nói lên tâm trạng người phụ nữ trông chờ người yêu đi tòng quân.

Chuyện một người con gái hay thiếu phụ ở nhà chờ người yêu hoặc chồng đi đánh giặc nơi tiền tuyến là đề tài của, hoặc thường được nhắc nhở trong, nhiều tác phẩm văn học. Các câu chuyện này không nhất thiết là hoàn toàn giả tưởng. Thực ra, đa số phản ảnh khá trung thực bối cảnh lịch sử, văn hóa, và xã hội của tác phẩm. Tôi sẽ không đi sâu vào đề tài này, mà chỉ dùng hai tác phẩm để so sánh và đối chiếu với ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến." Hai tác phẩm đó là "Chinh Phụ Ngâm" do Đặng Trần Côn viết vào thế kỷ thứ 18 (Xem, thí dụ như, Lê và Phạm 2001; Nguyễn 1971; Nguyễn 2000; Việt Nam Thư Quán) và ca khúc "Xa Vắng" do Y Vân viết vào năm 1964 trong miền Nam Việt Nam (Xem, thí dụ như, Nhạc Việt trước 75).

"Chinh Phụ Ngâm" là tác phẩm nguyên tác do Đặng Trần Côn viết bằng tiếng Hán và được nhiều người dịch sang tiếng Nôm. Bản tiếng Nôm nổi tiếng nhất thường được quy gán là do Đoàn Thị Điểm dịch. Trong bài này, tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết về "Chinh Phụ Ngâm" và cuộc tranh cãi về tác giả bản dịch (Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích). Văn bản tôi dùng thường được coi là do Đoàn Thị Điểm dịch (Xem, thí dụ như, Lê và Phạm 2001; Việt Nam Thư Quán).

Văn bản "Chinh Phụ Ngâm" tiếng Nôm là một văn bản dài (trên 400 câu thơ theo thể song thất lục bát), nên có cơ hội diễn tả tâm trạng người chinh phụ một cách đầy đủ. Qua lời thơ, ta thấy những nỗi niềm của người chinh phụ gồm có: thương sợ, thương nhớ, lẻ loi, trông ngóng, sầu muộn, chán nản, mong mỏi, ngờ vực, lo già, ao ước, và cầu khuẩn (Nguyễn 1971, 183-202). Tâm trạng nàng có thể được diễn gỉải theo một cách khác qua nhiều giai đoạn: tiếng oán hờn, nỗi quan hoài, tình cô độc, cảnh buồn, nỗi buồn chán, một chờ mộng xuân, một giấc mơ, và hòa bình và hy vọng (Lê và Phạm 2001, 230-240).

Ca khúc "Xa Vắng" ra đời năm 1964, bảy năm trước "Cho Người Vào Cuộc Chiến" nên có sự tương đương về hình thức và nội dung. Có ý kiến cho rằng bài "Xa Vắng" thực ra là thể hiện một khía cạnh của "Chinh Phụ Ngâm" trong cảnh chiến tranh Việt Nam, có lẽ dựa vào hai câu trong "Chinh Phụ Ngâm" ("Nương song luống ngẩn ngơ lòng/ Vắng chàng, điểm phấn trang hồng với ai?") ghi trong tờ nhạc gốc; do đó, nội dung cũng không khác "Chinh Phụ Ngâm" gì mấy. Tuy nhiên, ý kiến này chưa được xác định. "Chinh Phụ Ngâm" có thể cho tác giả Y Vân nguồn cảm hứng nhưng không nhất thiết khiến ông viết "Xa Vắng" theo ý của "Chinh Phụ Ngâm." Dầu sao, "Xa Vắng" có rất nhiều điểm tương đồng với "Chinh Phụ Ngâm," biểu lộ tâm trạng cô gái qua nỗi thương nhớ, buồn bã, cô đơn, và sự biếng nhác trong việc trang điểm phấn son, lời thề hẹn ước, và niềm hy vọng hội ngộ.

1. Tương tự như "Chinh Phụ Ngâm" và "Xa Vắng," ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" nói lên tâm trạng người con gái thương nhớ người yêu ra đi chinh chiến:

Chàng thanh niên đến tuổi thi hành nghĩa vụ tòng quân. Anh phải bỏ học, bỏ trường, bỏ áo học trò, đi theo "tiếng gọi công dân" lên đường gia nhập quân ngũ ("Anh bỏ trường xưa, bỏ áo thư sinh theo tiếng gọi lên đường.") Trong bài trước (Cao-Đắc 2014b), tôi đã trình bày vấn đề gia nhập quân đội dưới thời VNCH, kể cả lý do hoãn dịch vì học vấn. Hình ảnh chàng trai xếp sách vở đi tòng quân đánh giặc được diễn tả trong Chinh Phụ Ngâm một cách tương tự:

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.

("Chinh Phụ Ngâm," câu 18-19).

Như bao thanh niên khác, chàng trai ra đi vì đất nước trong thời chinh chiến và chàng quên thân mình trong việc bảo vệ non sông ("Anh đi vì đất nước khổ đau/ Anh đi anh quên thân mình.") Cảnh đất nước trong thời chinh chiến như "thuở trời đất nổi cơn gió bụi" khiến vua phải "nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh" như được diễn tả trong "Chinh Phụ Ngâm."

Trước ngày chàng ra đi, cô gái muốn chàng yên tâm là cô không trang điểm giữ gìn sắc đẹp với thiên hạ và xa rời nơi thị tứ có trai thanh gái lịch dập dìu qua lại để tránh cám dỗ ("Em vì anh tóc bới chẳng lược cài/ Thôi điểm trang, má phấn chẳng cần dồi/ Xa phồn hoa với những chiều dập dìu/ Cho anh vững lòng anh đi.") Đây là một khía cạnh đặc sắc của bài hát vì nó nói lên tính chất trung thực, biết lo lắng và quan tâm người yêu của cô gái. Với câu "em vì anh""cho anh vững lòng," cô gái cho thấy cô tự nguyện làm những chuyện đó, và không phải do chàng trai yêu cầu. Cô gái không lo là chàng trai có bồ bịch khi xa nhà, mà cô chỉ lo chàng không yên tâm sợ cô có bồ bịch. Đó là một hành động tế nhị và sâu sắc, rất ít thấy trong phái nữ.

Ta thấy hình ảnh người con gái không thiết gì đến giữ gìn nhan sắc mình vì xa người yêu. Việc này có thể có nhiều lý do. Thứ nhất, cô gái nghĩ rằng sắc đẹp của cô là dành cho người yêu và không cho ai khác. Do đó, khi không có người yêu ở bên cạnh cô không có động lực để chăm sóc sắc đẹp mình. Thứ nhì, cô gái buồn bã vì xa ngươì yêu nên không còn thiết tha đến những hoạt động khác, kể cả việc trang điểm. Thứ ba, cô muốn giữ gìn son sắt với người yêu, và không muốn mời mọc những người trai khác, và cô muốn giữ trọn vẹn lời hẹn ước với người yêu. Đó là hình ảnh cô gái trong ca khúc "Xa Vắng" của Y Vân phản ảnh phần nào tâm trạng của người thiếu phụ trong "Chinh Phụ Ngâm" như những lời sau:

Ngày anh xa vắng
Em không trang điểm đợi chờ
. . .
Phấn son xếp lại chẳng dùng.
. . .
Tóc buông giữ vẹn lời thề.

("Xa Vắng" của Y Vân.)

Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói,
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song
Nương song luống ngẩn ngơ lòng
Vắng chàng, điểm phấn trang hồng với ai?

("Chinh Phụ Ngâm," câu 233 – 236)

Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở,
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua.
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa,
Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng.

("Chinh Phụ Ngâm," câu 345 – 348)

Tuy nhiên, ta để ý có sự khác nhau giữa cô gái trong "Cho Người Vào Cuộc Chiến," cô gái trong "Xa Vắng," và người thiếu phụ trong "Chinh Phụ Ngâm." Trong "Chinh Phụ Ngâm," người thiếu phụ không cho biết cô không giữ gìn nhan sắc vì thương nhớ chồng hoặc vì muốn tránh mời mọc thiên hạ và muốn giữ vẹn lời thề. Cô ta chỉ cho biết vì thương nhớ chồng mà không thiết gì đến trang điểm giữ gìn nhan sắc, khiến cô tiều tụy và trở thành già nua. Cô gái trong "Xa Vắng" biểu lộ rõ rệt việc cô không màng đến trang điểm ("không trang điểm đợi chờ," "Phấn son xếp lại chẳng dùng"). Cô cho biết lý do là cô muốn giữ vẹn lời thề chung thủy với người yêu ("Tóc buông giữ vẹn lời thề.") Sự khác biệt giữa ba tác phẩm này sẽ được trình bày sau.

Trở về với bài hát, cô gái trong "Cho Người Vào Cuộc Chiến" cư xử khác hẳn với cô gái trong "Xa Vắng" và người thiếu phụ trong "Chinh Phụ Ngâm": cô quyết định không trang điểm giữ gìn nhan sắc, và xa lánh nơi thiên hạ dập dìu trước khingười yêu cô ra đi. Cô ta muốn người yêu cô an tâm và vững lòng ra đi, và anh không phải lo âu gì về cô. Như trình bày ở trên, hành động này cho thấy cô gái là người có tâm, có tình, và bản chất sâu sắc. Ta sẽ thấy khía cạnh này được nổi bật thêm nữa qua lời lẽ của cô. Sau khi người yêu ra đi, tuy cô gái không nói ra, ta cũng hiểu là cô gái tiếp tục không trang điểm hoặc lui tới những nơi nhộn nhịp người ta để giữ vẹn lòng chung thủy với người yêu.

Xa người yêu, cô gái cảm thấy cô đơn, nhất là trong đêm khuya thanh vắng. Cô nhớ người yêu đang đi phương trời xa xôi. Cô không biết tâm tình với ai, và chỉ biết ghi xuống và hàng tâm sự ("Đêm rồi lại đêm, một bóng đơn côi/ em nhớ người phương trời/ Tâm tư chẳng biết nói cùng ai/ Đơn sơ em ghi đôi dòng.") Buồn bã và cảm thấy cô đơn cũng là tâm trạng của người thiếu phụ trong "Chinh Phụ Ngâm." Nàng nhớ chồng da diết:

Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai, hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.

("Chinh Phụ Ngâm," câu 187-194)

Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.

("Chinh Phụ Ngâm," câu 211 – 216)

Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa.

("Chinh Phụ Ngâm," câu 231 – 232)


Cô gái trong "Xa Vắng" có nỗi niềm cô đơn tương tự:

Những đêm gió lạnh đầu hè
Khuê phòng phủ kín tâm tư.
. . .
Trắng đêm đối ngọn đèn tàn
Trăng mờ lạnh giấc cô miên.

("Xa Vắng" của Y Vân.)

Cô gái ghi nhận những cảm nghĩ gì? Một cách cao thượng, cô không than phiền, trách móc, hoặc than vãn. Cô chỉ muốn nói với người yêu cô là tuy cô sống nơi thị thành tấp nập, cô lúc nào cũng một lòng thương yêu anh ("Mong người đi giữa súng đạn chập chùng/ Xin hiểu cho giữa cát bụi thị thành/ Bao giờ em cũng vẫn bền một lòng/ Thương anh suốt đời anh ơi!"). Chữ "anh ơi" trong câu cuối nói lên nỗi niềm thiết tha cho tình yêu cô gái dành cho người yêu.

Người chinh phụ trong "Chinh Phụ Ngâm" nhớ chồng và cảm thấy cô đơn. Nhưng nàng nghi ngờ chồng và không có niểm tin là chồng có còn thương yêu mình nữa không:

Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng.
Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa.
Hướng dương lòng thiếp như hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.

("Chinh Phụ Ngâm," câu 299 – 304.)

Cô gái xác nhận thêm lần nữa là cô lúc nào cũng yêu chàng trai. Hơn thế nữa, cô còn khẳng định là cho dù người yêu cô có bị thương tích tật nguyền hoặc trở về nguyên vẹn với chiến công hiển hách, tình yêu cô dành cho anh vẫn không thay đổi ("Mai kia anh trở về, anh trở về/ Dẫu rằng dẫu rằng không còn vẹn như xưa/ Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ/ Dù anh trở về bằng chiếc xe lăn/ Hoặc anh trở về bằng chiến công đầy/ Tình em vẫn chẳng đổi thay."). Lời hứa hẹn đó khiến ta liên tưởng đến bài "Kỷ Vật Cho Em" do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của Linh Phương (Ngô 2014). "Kỷ Vật Cho Em" không phải là lời cô gái nói với người yêu, mà là lời chàng trai nói với cô gái. Do đó, câu nói có phần chua chát, thực tế, và có chút gì xót xa. Chàng trai trong "Kỷ Vật Cho Em" tưởng tượng những gì có thể xảy ra với anh: chàng có thể trở về nguyên vẹn và ca khúc khải hoàn với các chiến công hiển hách, chàng có thể chết nằm trong hòm gỗ, bị thương tích nằm trên băng ca, hoặc chống nạng gỗ vì cụt chân:

Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng
. . .
Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân.
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân,
Bên nguời yêu tật nguyền chai đá.

("Kỷ Vật Cho Em" - nhạc Phạm Duy/ lời Linh Phương.)

Với lời lẽ trong "Kỷ Vật Cho Em," ta thấy việc người lính trở về mang tật nguyền vì thương tích trong cuộc chiến là sự kiện rất có thật và có lẽ là hình ảnh thông thường. Nhưng người chinh phụ trong "Chinh Phụ Ngâm" không tưởng tượng ra hình ảnh chồng mình trở về với thân thể bị tàn phá bởi cuộc chiến. Nàng chỉ lo là chồng có an toàn không. Tương tự, cô gái trong "Xa Vắng" không nghĩ đến cảnh người yêu mình bị tàn phế vì thương tích do chiến tranh. Đây là điểm khác biệt quan trọng với cô gái trong "Cho Người Vào Cuộc Chiến" như sẽ được trình bày sau.

Cô gái suy nghĩ vẩn vơ, tự hỏi không biết người yêu hiện giờ đang ở đâu, đêm về có lạnh và có sương giăng phủ mờ không ("Anh giờ ở đâu?/ Đồi núi cao nguyên hay cuối miền sông hậu?/ Đêm nay ở đó gió lạnh không?/ Sương khuya có giăng giăng đầy?") Với chi tiết người lính có thể đi lưu động khắp nơi từ vùng cao nguyên tới vùng sông ngòi, ta có thể suy đoán người yêu cô đi trong một trong các binh chủng Tổng trừ bị (Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến).

Ta biết chiến sĩ trong các binh chủng này chiến đấu rất vất vả vì họ thường phải ra trận nhanh chóng và tham gia các trận đánh khốc liệt. Do đó, mức độ nguy hiểm rất cao. Cô gái biết rõ những gian nan nguy hiểm người yêu mình đối phó. Cô không biết làm gì hơn là nguyện cầu cho chàng được bình an và trở về ("Phương này em với những lời nguyện cầu/ Cho người đi sẽ có ngày trở về.") Cô gái chỉ mong ước hai người còn có nhau và tình yêu hai người vẫn thắm thiết như lúc ban đầu ("Cho tình ta thắm thiết tựa ngày đầu/ Xin cho chúng mình còn nhau.").

Tương tự, người thiếu phụ trong "Chinh Phụ Ngâm" mơ đến ngày chồng trở về ca khúc khải hoàn, danh vang và được triều đình trọng đãi:

Hộ chàng trăm trận nên công,
Buông tên ải Bắc, treo cung non Đoài.
Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải,
Tiếng khải ca trở lại Thần Kinh.
Đỉnh non khắc đá đề danh,
Triều thiên vào trước cung đình dâng công
("Chinh Phụ Ngâm," câu 379 – 384.)

Nàng ao ước cùng kết lại mối duyên với chồng, sống hạnh phúc bên nhau cho bõ những ngày xa vắng nhớ nhung:

Thiếp xin muôn kiếp sau này,
Như chim liền cánh, như cây liền cành.

("Chinh Phụ Ngâm," câu 363 - 364.)

Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.
Cho bỏ lúc xa sầu, cách nhớ,
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình.

("Chinh Phụ Ngâm," câu 407 - 410.)

Cô gái trong "Xa Vắng" cũng mong người yêu trở về chiến thắng vinh quang, và mơ ước đoàn tụ người yêu cho dù phải chờ đợi đến lúc tóc bạc già nua:

Chàng đi chinh chiến
Gieo neo rừng khuya
Là mong chiến thắng vai mang vòng hoa
. . .
Đợi chàng một hai năm
Hay là cả đời xuân xanh.
Ngày nao đầu pha tuyết sương
Vẫn mong tái ngộ một lần.

("Xa Vắng" của Y Vân.)

Cùng một đề tài về người con gái trông chờ người yêu hoặc chồng mình đi đánh giặc nơi xa, các tác giả của "Chinh Phụ Ngâm," "Xa Vắng," và "Cho Người Vào Cuộc Chiến" trình bày tâm tình người con gái có cùng nỗi nhớ nhung thương yêu, buồn bã vì cô đơn, và trông mong ngày hội ngộ. Nhưng ba tác phẩm có vài điểm khác biệt quan trọng, như sẽ được trình bày sau đây.

2. Khác với "Chinh Phụ Ngâm" và "Xa Vắng," ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" biểu lộ tình yêu cao thượng và bản chất tế nhị của cô gái:

Người chinh phụ trong "Chinh Phụ Ngâm" được coi là bày tỏ ý tưởng "rất thật" (Nguyễn 1972, 151). Ngoài ra, "nàng đau buồn, thất vọng song nàng không bao giờ tuyệt vọng" (sđd., 161) và có "niềm tin chắc chàng sẽ sống trở về" (sđd., 163). Nàng thương nhớ chồng, nhớ những kỷ niệm bên nhau. Nàng không màng gì ̣đến phấn son trang điểm ("Vắng chàng, điểm phấn trang hồng với ai?"). Nàng bày tỏ lòng chung thủy với chồng và tự ví mình như hoa hướng dương ("Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa/ Hướng dương, lòng thiếp đường xa"), nhưng nghi ngờ lòng dạ chung thủy của chồng ("Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?" "Lòng chàng lẩn thẩn, e tà bóng dương").

Cô gái trong "Xa Vắng" cũng bày tỏ nỗi niềm cô đơn và thương nhớ chồng. Cô ta cũng không màng đến trang điểm nhan sắc. Ngoài ra, cô có nỗi buồn tủi cho thân phận mình, và diễn tả cảnh khóc lóc, cho dù buồn thảm vì chia ly hoặc vui mừng khi hội ngộ:

Thương đời biển sầu bao la
Để cho cành hoa héo khô
Lỡ cung ái ân xuân thì.
. . .
Ước mong ngấn lệ ngày về
Thay dòng nước mắt chia ly
Lệ rơi nhiều hơn nước mưa
Dẫu cho bốn biển chẳng vừa.

("Xa Vắng" của Y Vân.)

Qua những điểm trên, ta thấy so với "Chinh Phụ Ngâm""Xa Vắng," ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" có ít nhất ba điểm khác biệt đáng kể. Ba điểm này không hoàn toàn do sự khác biệt giữa ý tưởng riêng tư của Đặng Trần Côn, Y Vân, và Phan Trần vì các tác giả thường cố gắng viết phản ảnh tình trạng xã hội và con người lúc bấy giờ, hơn là trình bày ý kiến cá nhân.

Ba điểm đó như sau. Thứ nhất, như đã trình bày ở trên, cô gái trong "Cho Người Vào Cuộc Chiến" có suy nghĩ sâu sắc và tế nhị. Nàng biết tâm lý người yêu lo lắng nàng có thể bị cám dỗ hoặc quên anh. Do đó nàng cố gắng trấn an anh qua hành động không trang điểm phấn son, và tránh đi lại những nơi phồn hoa đông người, trước khi anh ra đi. Thứ nhì, nàng thẳng thắn nhắc đến những gì có thể xảy đến với người yêu khi anh trở về, kể cả anh chống nạng gỗ hoặc ngồi xe lăn. Nàng cho anh biết lúc nào nàng cũng yêu anh, cho dù anh bị tật nguyền vì thương tích. Thứ ba, tuy nàng thương nhớ người yêu, nàng không biểu lộ nỗi buồn thảm quá đáng, hoặc nghi ngờ người yêu, hoặc tủi thân cho cuộc đời mình. Khía cạnh này quan trọng vì nó nói lên bản chất lo xa và biết tâm lý của cô gái. Nàng không muốn người yêu phải bận tâm và lo sợ nàng buồn bã.

Cả ba đặc điểm này phù hợp lẫn nhau và biểu lộ tình yêu cao thượng của cô gái dành cho người yêu, vượt quá sự nhỏ nhen ích kỷ tầm thường của nhiều thiếu nữ trong tình yêu. Ta nên tìm hiểu thêm về lý do cho sự khác biệt này.

Một lý luận có thể đưa ra để giải thích sự khác biệt này. "Chinh Phụ Ngâm" và "Xa Vắng" là lời tâm sự của cô gái cho chính cô ta, như lời trong một quyển nhật ký, và không định cho người chồng hoặc người yêu cô đọc. Do đó, lời lẽ không có sự tế nhị hoặc sâu sắc. Ngược lại, cô gái "Cho Người Vào Cuộc Chiến" đang viết lời tâm sự như một lá thư gửi cho người yêu ngoài chiến tuyến. Vì vậy cô ta diễn tả khéo léo và có những nét tinh tế sâu sắc để trấn an người yêu.

Tôi không đồng ý hoàn toàn với lý luận này. Trước hết, sự tinh tế và sâu sắc không phải là một khía cạnh "xã giao" hoặc hình thức bên ngoài, mà là sự suy nghĩ chân thành, biết lo cho người khác, và biết đặt những việc quan trọng của người mình yêu lên trên những việc quan trọng của mình. Cho dù "Chinh Phụ Ngâm" và "Xa Vắng" là lời trong nhật ký hoặc lời chỉ cho người viết đọc, điều đó không có nghĩa là người viết không có quyền diễn tả sự suy nghĩ chân thành. Thực ra, chính vì là lời trong nhật ký, những ý tưởng được ghi nhận hoặc không được ghi nhận phản ảnh trung thực bản chất của người tâm sự. Thứ nhì, lời cô gái trong "Cho Người Vào Cuộc Chiến" không phải là lời khéo léo, nói ra để làm người yêu vui. Việc cô không trang điểm, không đi lại những nơi phồn hoa, không phải là lời nói suông, mà là những hành động cô đã làm trước khi người yêu cô ra đi. Ngoài ra, lời hứa chung thủy cho dù chàng chống nạng gỗ hay ngồi xe lăn không phải là lời làm cho người yêu mình vui hơn, mà trái lại có thể tạo những phản tác dụng vì anh ta có thể tin tưởng vào việc đó nên trở nên liều lĩnh hơn trong trận chiến.

Ta có thể hiểu sự khác biệt giữa "Chinh Phụ Ngâm" và "Cho Người Vào Cuộc Chiến" vì hai tác phẩm cách nhau khoảng hai trăm năm. Xã hội và các quan điểm sống, nề nếp, gíá trị con người, đương nhiên có nhiều điểm khác nhau. Nhưng "Xa Vắng" và "Cho Người Vào Cuộc Chiến" chỉ cách nhau có bảy năm, làm sao có thể có sự khác biệt nhiều được?

Có vài giải thích cho sự khác biệt giữa "Xa Vắng" và " Cho Người Vào Cuộc Chiến." Thứ nhất, cả hai đều là ca khúc diễn tả một khía cạnh nào đó xã hội, và không nhất thiết là khía cạnh đó phải giống nhau. Mỗi tác giả có một nguồn cảm hứng và mục tiêu khác nhau trong việc diễn tả ý tưởng. Y Vân có thể biết những suy nghĩ sâu sắc và tế nhị của người phụ nữ miền Nam, nhưng ông quyết định không nhắc đến vì đó không phải là mục tiêu nghệ thuật ông muốn đưa vào ca khúc "Xa Vắng." Thứ nhì, tuy chỉ cách nhau bảy năm, quả thực là tình trạng xã hội và vấn đề tình yêu trai gái trong miền Nam Việt Nam có sự khác biệt. Năm 1964, khi "Xa Vắng" ra đời, chiến tranh chưa đến mức tột đỉnh khốc liệt và chưa có lệnh Tổng động viên kêu gọi thanh niên trẻ ở tuổi học sinh và sinh viên. Năm 1971, khi ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" ra đời, cuộc chiến đang đi qua sự khốc liệt nhất của chiến tranh và lệnh Tổng động viên đã được ban hành. Hàng ngàn sinh viên học sinh phải bỏ dở chuyện học hàng để gia nhập quân ngũ. Với chiến trường ngày càng khốc liệt, số người chết ngày càng gia tăng và thương binh trở về ngày càng nhiều, ý tưởng của các cô gái có người yêu trong quân đội ngày càng khác đi và phản ảnh thực tế của chiến tranh bấy giờ.

Cho dù có sự khác biệt giữa ba tác phẩm, ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" vẫn phản ảnh trung thực tình trạng xã hội miền Nam bấy giờ và bản chất người phụ nữ miền Nam với lòng dạ sắt son chung thủy, và sâu sắc lo cho người yêu. Có thể có người cho rằng cô gái trong "Cho Người Vào Cuộc Chiến" chỉ là nhân vật giả tưởng, và không có ai có tình yêu cao thượng như vậy. Tuy nhiên, đối với người dân sống trong miền Nam trong thời chiến tranh, chuyện đó không có gì khác thường. Trong tình yêu hay tình vợ chồng, người con gái Việt Nam được dạy những đức tính trung thành, đoan trang, nhẫn nại, lo lắng chăm sóc cho người yêu, người chồng cả về vật chất lẫn tinh thần. Đương nhiên cũng có những người không tôn trọng tình nghĩa hoặc phản bội người yêu người chồng. Nhơng đó chỉ là một thiểu số và không tiêu biểu cho giới phụ nữ miền Nam. Trong bài "Cái Cò," (Cao-Đắc 2015) tôi đã trình bày những khía cạnh này của người phụ nữ miền Nam. Những đức tính này còn được biểu lộ mãnh liệt trong thời chiến như đã được chứng tỏ qua những tài liệu phỏng vấn hoặc hồi ký.

B. Ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" diễn tả tâm tình cô gái hữu hiệu qua giai điệu êm ái và cách dùng chữ khéo léo

Một bài hát về lời kể lể tâm sự thường có giai điệu chậm và nhẹ nhàng, nhưng phải có sự quyến rũ để khán gỉả không cảm thấy nhàm chán. Ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" đạt được mục đích kể lể hữu hiệu qua sự phối hợp của giai điệu, tiết tấu, và lời nhạc.

1. Bài hát có giai điệu chậm chạp và êm dịu với điệp khúc lên cao nhấn mạnh lời hứa mạnh mẽ cho lòng chung thủy của cô gái:

Bài hát có ba phiên khúc và một điệp khúc. Ba phiên khúc có giai điệu và tiết tấu tương tự. Ba phiên khúc này có giai điệu chậm chạp êm dịu, với các quãng nhạc lên xuống rất ít trong mỗi câu, khiến khán gỉả có cảm tưởng nghe lời cô gái tâm sự nhẹ nhàng qua lời nói. Câu chuyển tiếp bắt đầu bằng "Em vì" ("Mong người"/ "Phương này") lên cao để thay đổi nhịp điệu và tạo nét linh động cho câu chuyện.

Đặc sắc nhất là phần điệp khúc. Phần điệp khúc khởi đầu bằng "Mai kia anh trở về" có chuyển tiếp khác biệt, nhấn mạnh lời cô gái trong lời hứa hẹn nàng giữ lòng chung thủy cho dù người yêu bị tàn phế vì thương tích hay lành lặn trở về khải hoàn. Phần này còn có những câu nhắc lại để tăng thêm sức mạnh của ý nghĩa, và tạo giai điệu xuống dần sau nốt cao, tránh sự thay đổi đột ngột. Thí dụ như "anh trở về," "dẫu rằng," "dù anh."

Tiết tấu và nhịp điệu bài hát không có gì đặc biệt, nhưng chính sự không đặc biệt này đóng góp vào nét độc đáo của bài hát. Bài hát có những câu kéo dài hoặc quãng nghỉ thông thường như trong các bài khác. Cái quyến rũ của bài hát là giai điệu êm ả nhẹ nhàng, chứ không phải là nhịp điệu thay đổi, kéo dài hoặc dồn dập. Bài hát là lời cô gái nói với người yêu. Do đó, giọng nói lên xuống của cô đóng phần quan trọng hơn là nhịp điệu câu nói. Ngoài ra, ý nghĩa lời lẽ rất quan trọng trong bài này, nên những khía cạnh hấp dẫn của nhịp điệu nên được giữ tối thiểu để tránh chia trí cho người nghe.

2. Bài hát có lối dùng chữ đơn giản, dựa vào so sánh ngầm và cách dùng điệp ngữ gây tác dụng vương vấn:

Tác gỉả dùng chữ đơn giản, không màu mè, nói lên được tâm tình chân thành của cô gái. Vì đây là lời tâm sự của cô gái, tác giả chú trọng đến lời lẽ kể lể hơn là mô tả hình ảnh. Tuy vậy, tác gỉả khéo léo dùng từ ngữ so sánh ngầm để mô tả hữu hiệu. Thí dụ, "dập dìu" trong "những chiều dập dìu" không có chủ từ hoặc túc từ, mà được dùng như tính từ để mô tả cảnh "dập dìu tài tử giai nhân"; "chập chùng"trong "súng đạn chập chùng" vẽ ra hình ảnh loạt đạn bắn ra như mưa rào phủ đầy trời; "cát bụi" trong "cát bụi thị thành" mô tả xe cộ qua lại tung cát bụi nơi đô thị đông người; "giăng giăng" trong "Sương khuya có giăng giăng đầy" vẽ ra hình ảnh màn sương đêm mờ dày dặc.

Lối dùng so sánh hoặc cho thấy ngầm này rất có tác dụng mạnh trên khán giả vì nó khiến khán giả phải dùng trí tưởng tượng để vẽ ra hình ảnh mô tả. Để tạo tác dụng đó, người viết phải chọn lọc từ ngữ cẩn thận. Thí dụ, ta có thể nói "phiên chợ lác đác (người đi chợ)," "mặt nước lăn tăn (những gợn sóng)," "khuôn mặt ràn rụa (nước mắt)," "thân thể (run) lập cập" mà không cẩn viết ra những chữ trong ngoặc. Người nghe/đọc tự động điền vào những chữ bỏ trống, và, một cách vô tình, tham gia vào việc mô tả hình ảnh mà người viết muốn tạo dựng. Do đó, người nghe/ đọc được lôi cuốn vào lời ca và bản nhạc.

Một khía cạnh đặc biệt khác trong "Cho Người Vào Cuộc Chiến" là cách dùng điệp ngữ. Dùng điệp ngữ để gây một ấn tượng nào đó trên khán giả là một kỹ thuật khó, vì nếu dùng sai, kết quả sẽ có phản tác dụng. Tác giả lập lại từ ngữ để tạo một cảm xúc dây dưa kéo dài. Ngay từ câu đầu, tác giả dùng chữ "bỏ" hai lần, nhấn mạnh hành động bỏ học của chàng trai. Phiên khúc đầu chất chứa với 3 chữ "đi."Phần điệp khúc đầy những điệp ngữ ("trở về," "dẫu rằng," "dù anh"). Phiên khúc chót có 3 chữ "cho." Các điệp ngữ này được dùng một cách hữu hiệu vì chúng liên hệ đến ý tưởng chính của bài hát về ra đi, hội ngộ, và nghịch cảnh.

C. Kết Luận:

Ca khúc "Cho Người Vào Cuộc Chiến" là một "Chinh Phụ Ngâm Khúc" ở thế kỷ thứ 20, bày tỏ nỗi niềm cô đơn và thương nhớ của một cô gái hậu phương mong chờ người yêu trở về sau cuộc chiến. Bài hát cho thấy tình yêu cao thượng và suy nghĩ sâu sắc của cô gái biết lo cho người yêu, khác hẳn với cách diễn tả tầm thường, có chút ích kỷ của người chinh phụ trong "Chinh Phụ Ngâm" và cô gái trong ca khúc "Xa Vắng" của Y Vân. Với giai điệu êm dịu, chuyển tiếp nổi bật của điệp khúc, cách dùng chữ đơn giản nhưng hữu hiệu, và ý nghĩa tế nhị sâu sắc, "Cho Người Vào Cuộc Chiến" biểu lộ trung thực bản chất thương yêu và chung thủy của phụ nữ miền Nam trong thời chiến.

Là những chiến sĩ thầm lặng trong bóng tối, phụ nữ miền Nam, gồm có người yêu, vợ, mẹ, dì, thím, chị, em, con, cháu của các quân, cán, chính, nhất là các chiến sĩ xung pha nơi trận mạc, không nhận được sự tri ân và kính trọng chính đáng. Họ là nguồn sống cho chiến sĩ VNCH trong cuộc chiến và đã chịu biết bao nhiêu gian khổ và hy sinh lớn lao. Sau cuộc chiến, họ còn là nguồn sống cho chiến sĩ và hậu duệ VNCH để nung nấu hào khí dân tộc Việt Nam trong thảm cảnh đất nước hiện tại dưới sự áp bức đô hộ của nhóm cầm quyền cộng sản.

CẢM TẠ

Tôi xin có lời cám ơn các bạn trên trang mạng Dân Làm Báo đã có lời khích lệ trong các bài về âm nhạc trước và giúp tôi có ý định viết bài này, đặc biệt là lời yêu cầu của bạn Cánh Dù lộng gió.

25/05/2015

Image
Cao-Đắc Tuấn
http://danlambaovn.blogspot


_________________________________________

Tài Liệu Tham Khảo:

1. Cao-Đắc Tuấn. 2014a. "Một Mai Giã Từ Vũ Khí." 22-8-2014.
http://danlambaovn.blogspot.com/2014/08 ... u-khi.html (truy cập 22-5-2015).

2. _________. 2014b. "Giã Từ Sài Gòn." 27-11-2014.http://danlambaovn.blogspot.com/2014/11 ... i-gon.html (truy cập 24-5-2015).

3. _________. 2015. "Cái Cò." 30-4-2015.http://danlambaovn.blogspot.com/2015/04/cai-co_29.html (truy cập 22-5-2015).

4. Hợp Âm Việt. Không rõ ngày. Cho người vào cuộc chiến. Không rõ ngày.
http://hopamviet.com/sheet/song/cho-ngu ... UIUE8.html (truy cập 21-5-2015).

5. Lê Hữu Mục và Phạm Thị Nhung. 2001. Tiếng Nói Đoàn Thị Điểm Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc. Trung Tâm Việt Nam Học Canada. Montréal, Canada.

6. Ngô Nguyên Nhiễm. 2014. 45 năm lời hát "Kỷ Vật Cho Em" ̣9-2-2014.
http://songnews.net/D_1-2_2-223_4-899/4 ... ho-em.html (truy cập 24-5-2015).

7. Nguyễn Bá Triệu. 2000. Chinh Phụ Ngâm Tập Chú. Ontario, Canada.

8. Nguyễn Văn Xuân. 1971. Chinh Phụ Ngâm Diễn Âm Tân Khúc của Phan Huy Ích. Lá Bối, Sài Gòn, Việt Nam.

9. Nhạc Việt trước 75. Không rõ ngày. Xa Vắng (Y Vân). Không rõ ngày.
http://amnhacmiennam.blogspot.com/2013/ ... y-van.html (truy cập 24-5-2015).

10. Việt Nam Thư Quán. 2004. Chinh Phụ Ngâm. Đặng Trần Côn. Diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm. 27-12-2004.
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx ... q3m3237nvn (truy cập 21-5-2015).

11. Wikipedia. 2015. Mặc Thế Nhân. 23-3-2015.
http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7 ... C3%A2n&#40 (truy cập 18-5-2015).

© 2015 Cao-Đắc Tuấn

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 14, 2016 1:37 am), Duyên Chi(Wed Apr 13, 2016 5:53 pm), lachong(Thu Apr 14, 2016 2:14 am), Ngô Đồng(Thu Apr 14, 2016 12:57 am)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Bolero, dòng nhạc cho tất cả mọi người - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby hat@ » Mon Apr 18, 2016 1:32 pm

Bolero, dòng nhạc cho tất cả mọi người

Cát Linh, phóng viên RFA
27-03-2016




Image

Chương trình Thần tượng Bolero đang được yêu thích tại Việt Nam. Screenshot of Youtube

Người ta thường hay nói “vận mệnh của một đất nước như thế nào thì âm nhạc của đất nước ấy sẽ như thế”. Có lẽ câu nói này sẽ đúng nếu nói về những ca khúc nhạc Việt Bolero nổi tiếng. Trải qua nhiều thập kỷ, các bản nhạc điệu Bolero vẫn còn được nhắc đến rất nhiều trong hoạt động âm nhạc của Việt Nam, thể hiện qua các cuộc thi trong nước mang tên “Thần tượng Bolero”, “Solo cùng Bolero”.[/b]

Để hiểu nhiều thêm về lịch sử cũng như những đặc điểm của thể loại này, mời quí vị cùng trò chuyện với [b]nhạc sĩ lão thành Tuấn Khanh, nữ danh ca Thanh Thúy
và nghe lại những tác phẩm Bolero nổi tiếng.

“Trời đêm dần tàn
Tôi đến sân ga đưa tiễn người trai lính về ngàn
Cầm chắc đôi tay ghi vào đời tâm tư ngày nay
Gió khuya ôi lạnh sao
Ướt nhẹ đôi tà áo…”

(Tàu đêm năm cũ)

Ca khúc Tàu đêm năm cũ mà quí vị vừa nghe là một trong hàng nghìn ca khúc nhạc Bolero quen thuộc của nền âm nhạc Việt Nam. Khó mà hình dung được vũ điệu trầm buồn, chầm chậm, gần như gắn liền với đời sống bình dị của người Việt Nam lại có nguồn gốc từ các nước Nam Mỹ. Ở Tây Ban Nha, Bolero được khai sinh vào cuối thế kỷ XVIII, và được xem như là một vũ điệu hàn lâm.

Bolero vào Việt Nam từ khi nào?

Không có nhiều tài liệu cho biết Bolero đã bắt đầu du nhập vào Việt Nam chính xác vào năm nào, nhưng lại nói rằng người đầu tiên mang Bolero vào miền Nam là nhạc sĩ Lam Phương, rồi Trúc Phương, hai nhạc sĩ nổi tiếng với những ca khúc Bolero trữ tình như Nửa đêm ngoài phố, Hai chuyến tàu đêm, Tàu đêm năm cũ…

Riêng cố nhạc sĩ Trúc Phương còn được gọi là ông hoàng của dòng nhạc Bolero.

Thế nhưng, nhạc sĩ lão thành Tuấn Khanh, người còn được biết đến là một ca sĩ với nghệ danh Trần Ngọc, tác giả của bản nhạc Mùa Xuân đầu tiên nổi tiếng được viết từ thập niên 60 ở Sài Gòn cho biết, những tài liệu ấy chưa chính xác lắm.

“Khi ở ngoài Bắc, trước năm 50, 51, 52, 53, 54 bắt đầu di cư vào miền Nam thì chưa có phong trào Bolero, hiếm lắm, tìm mãi mới có 1 bài. Vào đến miền Nam thì thấy bắt đầu từ những người ở Hải Phòng, những nhạc sĩ như Trịnh Hưng, Hoài An, Phó Quốc Thăng, Phó Quốc Lân, rồi Huyền Linh. Khi ở miền Bắc thì chưa nghe được tác phẩm Lam Phương. Ở Hà Nội thì chỉ nghe đài Sài Gòn, chưa thấy Bolero và chưa thấy tác giả Lam Phương. Khi vào đến trong Nam thì những bản nhạc của Trúc Phương nổi lên.”

Cũng chính vào thời điểm này, có hai ca khúc nổi tiếng khắp nơi, từ các phòng trà, vũ trường, các đại nhạc hội, cho đến những con hẻm nhỏ, và các vùng quê hẻo lánh, đó là Quán nửa khuya của nhạc sĩ Tuấn Khanh-Hoài Linh và Nửa đêm ngoài phố của nhạc sĩ Trúc Phương. Cả hai ca khúc đều thành công với một sứ giả mang tâm tình của hai người nhạc sĩ đến cho mọi người, đó là danh ca Thanh Thúy.

“Quán nửɑ ƙhuуɑ đèn mờ theo hơi ƙhói
Ƭrút tâm tư νào đêm νắng cɑnh dài
Quãng đời tôi tàu đêm νắng ƙhông người, νẫn lặng trôi …”

(Quán nửa khuya)

“Khi tôi bắt đầu đi hát là năm 1959. Bolero có trước năm 1960. Những bài Bolero, rumber thời gian 1960 đã có rồi, nhưng không nhiều như bây giờ.”

Âm hưởng cải lương và thời cuộc


Vì sao Bolero lại buồn đến như vậy? Và có phải vì như thế mà Bolero lại dễ đi vào lòng người hay không?

Image

Ngày nay vẫn có nhiều người trẻ đam mê dòng nhạc Bolero. (minh họa)

Quay trở lại thập niên 50, 60, đó là những năm mà người dân miền Bắc Việt Nam phải trải qua cuộc di tản thứ nhất. Những người nhạc sĩ từ Hải Phòng, vượt qua con sông Bến Hải để tìm đến vùng đất mới. Như nhạc sĩ lão thành Tuấn Khanh nhớ lại, đó là những năm tháng khó khăn, cái nghèo nó ám ảnh cả trong giấc ngủ. Người nhạc sĩ miền Bắc, miền Nam chia nhau điếu thuốc. Rồi nỗi nhớ quê hương bên kia bờ Bến Hải làm cho các nhạc sĩ di cư càng mang nhiều tâm sự. Nhưng đó cũng là lúc mà sự sáng tạo của người nghệ sĩ ở đỉnh cao nhất. Rất nhiều ca khúc nổi tiếng ra đời thời gian ấy. Nhưng tất cả, hầu như là những bản nhạc với nhịp 4/4 chậm buồn, buồn đến nao lòng.

“Ai biết ai vì đời cùng ngược xuôi chung lối mòn
Ngày anh hai mươi tuổi, em đôi tám trăng tròn
Đêm lạnh còn chăn đơn gối lẻ
Chưa buồn khi canh vắng khép đôi mi…”

(Bóng nhỏ đường chiều)

“Thời cuộc có nhưng nó ảnh hưởng từ cải lương ấy. Những bài hát cải lương người ta xuống những câu xề, đặc tính của loại nhạc cải lương nó mùi mẫn lắm. Hát như Chế Linh mà hát nhẫn cỏ cho em đấy, hát nghe mùi lắm, gần với giới bình dân. Những tuồng cải lương nào nó cũng có những tình tiết, mà mùi mẫn, mà cũng khóc được.”

Nếu nói đến cải lương thì ai cũng biết ngay nghệ thuật này có nguồn gốc từ miền Tây sông nước. Ông hoàng Bolero Trúc Phương, Lam Phương, Tô Thanh Tùng là những người được sinh ra ở Trà Vinh, Rạch Giá, Kiên Giang, Đồng Tháp.

Dễ nghe, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người, Bolero là những câu chuyện kể nhẹ nhàng, chân tình, không có mỹ từ trau chuốt. Nói theo cách của nhạc sĩ Tuấn Khanh, Bolero là loại nhạc bình dân, gần gũi. Những ca khúc Bolero là những câu chuyện buồn vui quen thuộc xảy ra trong đời sống. Mỗi một người dễ dàng chọn cho mình một, hai hoặc nhiều hơn nữa các ca khúc gắn liền với kỷ niệm mình đã đi qua.

Những người yêu âm nhạc, dù không học nhạc bài bản, nhưng chỉ cần biết vài nhạc lý cơ bản cũng có thể có một buổi văn nghệ khi “chén chú, chén anh”.

Những chàng nghệ sĩ hát rong thường chọn loại nhạc này để mưu sinh trên đường phố. Có lẽ cho đến mấy mươi năm sau, cũng khó ai quên được hình ảnh những người hát rong với cây guitar cũ kỹ, kiếm sống nơi các bến phà, bến xe ở Sài Gòn những năm 80 bằng những ca khúc Bolero buồn bã. Chẳng biết có phải họ đang kể lại câu chuyện của chính đời mình hay không, chỉ cần biết là cả người nghe và người hát đều tìm thấy cái tình của họ, cuộc sống của họ trong đấy.

“Có những đêm dài, anh ngồi nhìn hỏa châu rơi
Nghe vùng tâm tư cháy đỏ xoay ngang lưng trời
Những đóm mắt hỏa châu bừng lên trong màn tối
Như mắt em sáng ngời, theo anh đi ngàn lối
Những đêm không ngủ anh ngồi tâm sự cùng hỏa châu rơi…”

(Những đóm mắt hoả châu)

Ca sĩ Ánh Tuyết từng nhận xét rằng Bolero dễ hát nhưng không phải ai hát cũng hay. Nhạc sĩ Tuấn Khanh đã thốt lên rằng không ai có thể thay thế những dòng nức nở của danh ca Thanh Thúy hay tiếng hát sầu muộn của Giao Linh khi thể hiện các ca khúc Bolero.

“Đúng là thế. Hát Bolero ai cũng hát được, chỉ có hát hay và dở thôi. Nhưng hát được hay, ngọt ngào, đi vào lòng người thì không phải ai cũng hát được như thế, phải có những người hợp. Ca sĩ cũng thế thôi, phải hát hợp những loại nhạc nào chứ không phải có giọng hay thì hát bài nào cũng hay. Cũng như giọng hát của Thái Thanh, mà hát bản nào uốn quá thì nghe cũng không được thích. Nhưng bài nào cũng uốn, hát như khóc như bài Kỷ vật cho em, Bà mẹ Giao Linh thì không ai hát bằng Thái Thanh cả. Cái loại [i]Bolero thì phải thật sến, thứ thiệt đó, phải tùy người, chứ không phải người nào cũng hát được.”[/i]

Riêng nữ danh ca Thanh Thúy thì bà cho rằng, đối với người ca sĩ, quan trọng là họ có đặt được tâm hồn của mình vào bài hát để diễn đạt cái vui cái buồn mà tác giả ca khúc mong muốn hay không.

“Nếu mà nói kén thì cũng không đúng. Nói khó thì cũng không khó, dễ thì cũng không dễ. Là vì sao? Mình hát mình làm sao mình đặt tâm trạng mình vào bài hát đó, đó là cái khó. Nếu là một ca sĩ chuyên nghiệp thì điệu nào cũng hát được hết. Mình đưa mình vô bài hát, hát đúng với ý của tác giả mong muốn, đó là chuyện không phải dễ.”

“Ai cho tôi tình yêu
Của ngày thơ ngày mộng
Tôi xin dâng vòng tay mở rộng
Và đón người đi vào tim tôi
Bằng môi trên bờ môi…”

(Ai cho tôi tình yêu)

Như thế, có thể hình dung Bolero như một cô gái nhẹ nhàng, nũng nịu, dễ khóc, chan hoà, gần gũi với mọi người. Nhưng không phải vì thế mà ai cũng có thể dễ dàng thấu hiểu nỗi niềm của cô gái ấy.

“Hồn lỡ sa vào đôi mắt em
Chiều nao xõa tóc ngồi bên rèm
Thầm ước nhưng nào đâu dám nói
Khép tâm tư lại thôi
Đường hoa vẫn chưa mở lối…”

(Về đâu mái tóc người thương)

Nếu hát Bolero dễ mà khó thì sáng tác nhạc Bolero cũng phải tùy do trường phái của người nhạc sĩ. Đối với Văn Cao, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn-Từ Linh hay Trịnh Công Sơn thì không có tác phẩm nào được viết với thể loại Bolero.

Nhưng không phải ca khúc Bolero nào cũng bắt buộc phải sầu bi, dang dở. Nữ danh ca Thanh Thúy khẳng định rằng với bà, không có thể loại nhạc nào là nhạc sến, chỉ có vài ca khúc có lời sến, nhưng không nhiều. Không phải bản nhạc Bolero nào cũng mang mong ước nhà mình chung vách, anh khoét bức tường anh qua thăm em. Mùa xuân đầu tiên của nhạc sĩ Tuấn Khanh là một Bolero mà ông gọi là “có hậu”“Bolero mà không phải Bolero”.

“Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy anh trở về thăm em
Bao lần ngồi thâu đêm nghe mùa Xuân vừa đến
Em ơi hoa thắm rơi ngập đường trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ tới em luôn khi chiều tàn chim gọi đàn…”

(Mùa xuân đầu tiên)

Chính vì vậy, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trong một lần trả lời phỏng vấn trong nước có nói rằng, với ông, Bolero là một thể loại nhạc trữ tình. Tùy vào người nghe mà dòng nhạc này được gọi là “nhạc vàng" hay “nhạc sến”.

Và quan trọng hơn là, cho dù là thể loại nào cũng có một giá trị của riêng nó.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Tue Apr 19, 2016 12:18 am), Duyên Chi(Tue Apr 19, 2016 2:00 am), lachong(Tue Apr 19, 2016 2:37 am), Ngô Đồng(Mon Apr 18, 2016 10:46 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Gọi tên Sài Gòn trong những khúc tình ca - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby hat@ » Thu Apr 28, 2016 2:03 pm

Gọi tên Sài Gòn trong những khúc tình ca

Cát Linh, phóng viên RFA
24-04-2016



Image

Đường phố Sài Gòn năm 1945.

Nhà thơ Du Tử Lê từng nói, nếu tên của một người con gái nào đó xuất hiện trong nhạc phẩm của người nhạc sĩ thì thường đó là một tình yêu sâu đậm, cho dù chỉ là thoáng qua trong thời gian ngắn ngủi.

Nội dung chương trình tuần này đề cập về một cái tên được nhiều nhạc sĩ cùng nhắc đến trong các sáng tác của mình. Cái tên ấy là tình yêu sâu thẳm không chỉ của riêng người viết nhạc, mà còn là nỗi nhớ chưa bao giờ nguôi ngoai trong tâm trí của nhiều người, dù đã 41 năm đi qua.

Đó là tình yêu dành cho Sài Gòn.

- Quê anh ở đâu?
- Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn.
- Thế à. Thế anh rời Sài Gòn năm nào?
- Ngày cuối cùng của tháng tư năm 75.

“Mẹ đặt tên em, Nguyễn Thị Sài Gòn
Em sinh ra đời, một ngày cuối tháng Tư
Con thuyền mong manh, vẫy tay từ biệt
Gạt lệ ra đi, xin làm thân lữ thứ…” (tình ca cho Nguyễn Thị Sài Gòn
)

41 năm, cái tên Sài Gòn chưa bao giờ bị xoá bỏ trong từ điển ngôn ngữ của người Việt Nam. Họ gọi hai tiếng Sài Gòn như một người thân gắn bó trong cuộc đời, với tất cả sự thương yêu và tiếc nuối.

Khi tình yêu dành cho một điều gì đó, hay một người nào đó quá lớn, lớn đến nỗi không thể đo lường được, thì tình yêu ấy thường được hoà quyện vào máu thịt. Chỉ có như thế, thì mới có thể mãi mãi không tách lìa.

Nguyễn Thị Sài Gòn của cố nhạc sĩ Việt Dzũng là tình yêu ấy, nhưng còn hơn thế nữa, tình yêu không phải của riêng ông, mà của chung một dân tộc.

Dân tộc ấy đã có một Sài Gòn, và đã mất một Sài Gòn. Để rồi Sài Gòn hoa lệ, diễm tình, Sài Gòn thơ mộng, hiền hoà chỉ còn được lưu giữ trong tâm tưởng của người ra đi, lẫn người ở lại. Người đi thì mang theo những hoài niệm về một thành phố đã xa. Mà có lẽ, hành trang ấy chỉ có thể còn trong tâm tưởng. Vì làm sao có thể giữ được tất cả kỷ vật trong hành trình đến bến bờ tự do, khi mà cái sống và cái chết không còn là sự chọn lựa của con người lúc đó.

Image

Một gia đình người Việt khóc thân nhân của họ, những người lính bị giết trên các mặt trận, tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa, gần Sài Gòn. Ảnh chụp ngày 29 tháng 4 năm 1975. AFP PHOTO.

Trong giây phút ngột ngạt và bấn loạn nhất, hàng triệu người phải lựa chọn giữa đi và ở. Và có vẻ như đó là sự lựa chọn cuối cùng họ có được trên chính mảnh đất Sài Gòn thân yêu của mình. Nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn là một trong những dòng người đó. Ông đã chọn đi, để có thể giữ mãi trong trái tim ông hình ảnh của một người tình. Ông đi, để nhớ mãi những đêm hè, quán nhạc. Ông đi, để còn có thể gọi tên người tình ấy, người tình mà ông gọi là Sài Gòn. Ông gọi tên người tình ấy trong sáng tác của mình.

“Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
Như dòng sông nước quẩn quanh buồn
Như người đi cách mặt xa lòng
Ta hỏi thầm em có nhớ không

Sài Gòn ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao
Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
Nay còn gì đâu...” (Sài Gòn niềm nhớ không tên)

“Cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ như vậy. Như cái cây mà bị bứng ra khỏi đất của nó, mang sang trồng sang chỗ nào khác thì nó cũng có thể sống được, nhưng hoa trái của nó sẽ không còn mang cái vị của nó nữa. Thành ra, khi người ta ước mơ người ta đi thì có nghĩa là cái đất nó đã chua rồi. Chỉ có đi thì may ra còn nuôi được, chứ tình cảm trong đó thì đã chết hết.

Nếu Sài Gòn của Nguyễn Đình Toàn, của Việt Dzũng được viết lên cho tình yêu về một thành phố đã thuộc về quá khứ, thì Sài Gòn trong ca khúc của Lê Uyên Phương, hay của Trầm Tử Thiêng lại là Sài Gòn viết cho một cuộc tình.

“Sài-gòn bây giờ trời mưa hay nắng
Sài-gòn bây giờ ai khóc thương ai
Sài-gòn giới nghiêm che kín đêm dài
Sài-gòn khói bay, Sài-gòn nắng đổ
Sài-gòn đã buồn như trời sớm mai…” (Khi xa Sài Gòn)

“Khi xa Sài Gòn” là một ca khúc rất đặc biệt của cố nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ từ thơ Kim Tuấn. Hai từ Sài Gòn được nhắc đến ở mỗi đầu câu hát, từ câu đầu tiên cho đến câu cuối cùng. Ngay từ câu hát đầu tiên, người nghe, hay nói cách khác, người của Sài Gòn đã thấy hiện lên trong tâm trí một niềm khắc khoải xen lẫn nỗi nhớ về những đêm thành phố giới nghiêm, hoàn toàn yên lặng trong đêm tối. Nơi phương xa, họ tự hỏi rằng Sài Gòn của mình bây giờ trời đang mưa hay đầy nắng? Những hình ảnh rất thân quen với ngọn đèn đường xanh, đỏ, với những con đường ngái ngủ buổi sớm mai được tác giả nhắc đến trong ca khúc như đang cố gắng níu kéo một điều gì đó của Sài Gòn đang thuộc về quá khứ.

Điều đó là gì?

“Bài Khi xa Sài Gòn là một bài thơ tình của nhà thơ Kim Tuấn sống ở Pleiku mà anh Lê Uyên Phương và tôi có dịp gặp gỡ và quen biết anh nhân một chuyến lưu diễn, một tuần lễ văn hoá tổ chức ở Pleiku. Trong những bài thơ mà anh khoe với chúng tôi thì anh Lê Uyên Phương cảm được bài Khi xa Sài Gòn để phổ thành ca khúc. Ý nghĩa chính của nó là một bài thơ tình viết của một người từ Pleiku nhớ về người yêu của mình ở Sài Gòn, được sáng tác trong giai đoạn chiến tranh bùng nổ lên cao điểm là 1972. Còn nhà thơ Kim Tuấn viết bài thơ đó, nếu tôi nhớ không lầm là vào thời 1970, cũng là thời khốc liệt lắm, cũng có giai đoạn Sài Gòn bị giới nghiêm lúc 7 giờ tối.”

Cũng như nỗi nhớ của nhà thơ Kim Tuấn và cố nhạc sĩ Lê Uyên Phương, Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng là một Sài Gòn gắn bó với một thời tuổi trẻ. Khi ông xa lìa nơi ấy, ông mang theo tình quê, tình mẹ, và tình yêu dành cho người một trời yêu thương.

Image

Đường phố Sài Gòn trước năm 1975.

“Đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi
Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi
Đường im nghe quá khứ trong sầu
Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau
Tình lẻ loi canh thâu…” (Đêm nhớ về Sài Gòn)

Đêm nhớ về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng là những mảng ghép của Sài Gòn ngày cũ. Ông góp nhặt rồi thấy mình như đứa trẻ mồ côi lạc loài.

Theo một lần trò chuyện về ca khúc Đêm nhớ về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng cùng nhà thơ Du Tử Lê, ông nói rằng linh hồn của nhạc phẩm này và ca khúc Mười năm yêu em là một. Nhạc sĩ họ Trầm viết dành cho một cuộc tình mà ông đã gửi lại Sài Gòn.

“Khi ông ấy nhớ lại một cuộc tình, hơi bi thảm, và tôi cho rằng vì cuộc tình ấy mà gần như cả cuộc đời ông ấy không có gia đình. Cái bài tiêu biểu cho cuộc tình bi thảm và thuỷ chung của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, đó là ‘Đêm nhớ về Sài Gòn’.”

“Ông ấy viết Mười năm yêu em là vì khi ông ấy qua đây là mười năm, cũng là thời điểm ông ấy viết Đêm nhớ về Sài Gòn. Như tôi hiểu, như tôi biết, sở dĩ ông ấy trân trọng như vậy là bởi vì người phụ nữ đó cho đến ngày ông ấy mất thì vẫn không có lập gia đình. Vì vậy ông ấy rất trân trọng mối tình ấy.”


Nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn từng nói rằng khi ông phải lìa xa quê hương, lìa xa Sài Gòn, ông thấy mình như một kẻ không có chỗ trú thân.

“Tách rời ra khỏi quê hương, từ bỏ quê hương thật của mình thì chỗ khác không thể nào thay thế được đâu.”

Có lẽ chính vì thế mà kể từ ngày Nguyễn Thị Sài Gòn của cố nhạc sĩ Việt Dzũng được sinh ra, thì cũng là lúc Sài Gòn của Nguyễn Đình Toàn đã thuộc về một miền quá khứ.

Khi con người đã mất đi cái tên của mình thì họ sẽ nhân danh ai để hiện hữu? câu hỏi này cho đến tận hôm nay, nhà văn/nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn cũng như tất cả những ai thuộc về Sài Gòn ngày cũ vẫn chưa tìm được câu trả lời. Từ đó, những ca khúc có tên gọi Sài Gòn vẫn mãi mãi gợi cho bao người một niềm thương nhớ khó nguôi ngoai.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Apr 28, 2016 10:24 pm), Duyên Chi(Fri Apr 29, 2016 4:41 am), lachong(Fri Apr 29, 2016 2:23 am), Ngô Đồng(Thu Apr 28, 2016 6:01 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

‘Người tình’ Gia Long, Trưng Vương… trong các ca khúc - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby Duyên Chi » Mon May 23, 2016 10:01 am

‘Người tình’ Gia Long, Trưng Vương… trong các ca khúc

Cát Linh, phóng viên RFA – 22-05-2016

Image

Nữ sinh trường Gia Long. Courtesy of gialong.org


Gia Long, Trưng Vương, Đồng Khánh là những trường nữ trung học nổi tiếng ở Việt Nam trước năm 1975.

Rất nhiều những tản văn, thơ được viết lên trong đó nhắc đến tên những ngôi trường một thời là niềm tự hào cho những người được ngồi dưới mái trường ấy. Âm nhạc cũng thế. Gia Long, Trưng Vương, hay trường Văn khoa, trường Luật xuất hiện trong một số nhạc phẩm trước năm 1975.

“Đường xa cô gái Gia Long về đâu
Dừng chân cho nhắn thăm cô vài câu
Bao cô dưới cùng mái trường
Khi xưa đã tặng hoa mừng
Nay có còn theo bước thương không
Người trai lính chiến em hằng chờ mong
Ngày vui sông núi anh lập đầu công
Hoa xưa vẫn vẹn sắc màu
Trao anh chiếm trọn tâm lòng
Một bóng hình em đã ghi sâu…” (Cô nữ sinh Gia Long)

Gia Long, ngôi trường nữ trung học nổi tiếng nhất Việt Nam trước năm 1975, là niềm tự hào của biết bao nhiêu nữ sinh thời ấy. Và có thể nói, cho đến tận bây giờ, hai tiếng Gia Long vẫn có thể thay cho tiếng chào kết bạn, là sợi dây kết nối khi họ tình cờ gặp nhau ở bất cứ nơi nào trên thế giới, là niềm tự hào của người thiếu nữ trưởng thành trong một nền lễ giáo của gia đình miền Nam thời ấy.

Một điều thú vị ít ai biết, đó là nhạc sĩ Phượng Linh, tác giả ca khúc Cô nữ sinh Gia Long, cũng chính là nhạc sĩ khoác áo lính Nguyễn Văn Đông, người viết lên những nhạc phẩm xuân nổi tiếng.

Không phải ngẫu nhiên mà nhạc sĩ Phượng Linh (Nguyễn Văn Đông) chọn tên ngôi trường trung học nổi tiếng nhất Việt Nam lúc ấy là Gia Long để đưa vào ca khúc của mình, và kể lên một câu chuyện tình giữa cô nữ sinh và người lính chiến quốc gia. Là một người lính nên ông đã diễn đạt rất rõ nét mối tình lãng mạn, thủy chung son sắt của người thiếu nữ và lý tưởng oai hùng của người trai thời loạn.

Võ Thị Hai, một cựu nữ sinh Gia Long, hồi tưởng lại một thời áo trắng của bà và của những người cùng thế hệ:

“Có lẽ đại đa số cựu nữ sinh Gia Long chọn người yêu đi lính là một sự vô tình, không phải là sự chọn lựa. Vì thời đó là thời loạn, đại đa số thanh niên phải đi nhập ngũ, làm nghĩa vụ của người trai. Có những người trở về, có những người mất tích, một thiểu số ở lại nếu họ bị thương.

Những mối tình của nữ sinh Gia Long rất trong sáng, tuyệt đặt trong vòng lễ giáo, không bao giờ vượt quá lễ nghi của gia đình miền Nam Việt Nam lúc đó.


Cuộc tình của cô nữ sinh và người chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa trong nhạc phẩm của Phượng Linh là một trong rất nhiều cuộc tình khác đã nảy sinh trong thời kỳ loạn ly ấy. Ông gọi cô gái của mình với cái tên chung là cô nữ sinh Gia Long, đơn giản như món quà là màu hoa thép súng của người lính trao tặng cô ngày anh lập chiến công.

“Này cô xuân nữ Gia Long thành đô
Màu hoa thép súng xin dành tặng cô
Hoa em vẫn vẹn sắc màu
Trao anh chiếm cả tấm lòng
Một sắc màu em đã ghi sâu”

Trên một con đường khác ở Sài Gòn, có một ngôi trường mà tên gọi đã đi vào một ca khúc nổi tiếng từ thập niên 60.

Ai đã từng đi qua hàng cây trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa thì sẽ hiểu vì sao chỉ một mùa thu qua, mà nhạc sĩ Nam Lộc đã bâng khuâng với cảm giác nắng vương nhẹ gót chân, với lá rơi đầy sân. Cảm giác ấy có lẽ sẽ được những nữ sinh Trưng Vương ngày đó mang theo trong ký ức của họ đến mọi nẻo đường trong cuộc đời.

“Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh...” (Trưng Vương khung cửa mùa thu – Lời Việt: Nam Lộc)

Trưng Vương khung cửa mùa thu, là sáng tác của nhạc sĩ Nam Lộc chuyển lời Việt từ ca khúc Tell Laura I love her.

Nếu bài hát gốc là một câu chuyện buồn, một cuộc tình lãng mạn nhưng với kết cuộc có thể lấy đi nước mắt của nhiều người, thì Trưng Vương khung cửa mùa thu của Nam Lộc hoàn toàn mang một sắc màu khác, một nét rất riêng của Trưng Vương, của Sài Gòn.

Image

Nữ sinh trường Trưng Vương.

Bước ra từ bài hát cũng là một cuộc tình nhưng đó là cuộc tình tuổi học trò hồn nhiên, ngây thơ, dịu dàng với cô nữ sinh trong tà áo dài trắng. Có vẻ như Nam Lộc đã chọn những hình ảnh thật nhất, mềm mại nhất, thanh khiết nhất để đặt vào ca khúc của mình. Với những ngôn từ đầy chất thơ, ca khúc dường như đã chạm được vào những tâm tư sâu lắng nhất của cô nữ sinh trường Trưng Vương vào tuổi vừa biết yêu.

“Người mang cho em nghe môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng
Từng chiều cùng người
Về trong cơn mưa bay
Nghe thương nhớ tràn đầy
Lên đôi mắt thật gầy
Trưng Vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời…”

Phượng Linh, Nam Lộc, mỗi người nhạc sĩ đã chọn cho mình một ngôi trường để lưu lại tình yêu của tuổi trẻ một thời. Và hai ngôi trường nổi tiếng ấy lại được cố nhạc sĩ Phạm Duy nhắc đến với những tình cảm mượt mà trong cùng một nhạc phẩm của ông. Với ông, Trưng Vương, Gia Long, Văn Khoa, mỗi ngôi trường, là một “người tình”. Ông yêu người tình ấy, yêu cả con đường dẫn đến ngôi trường đó.

“Hỡi người tình Văn Khoa,
Bóng người trên hè phố
Lá đổ để đưa đường
Hỡi người tình Trưng Vương
Hỡi người tình Gia Long,
Hỡi người trong cuộc sống
Con đường này xin dâng
Cho người bình thường
Hỡi người tình xa xăm,
Có buồn ra mà ngắm
Con đường thảnh thơi nằm
Nghe chuyện tình quanh năm...” (Con đường tình ta đi)

Ký ức bao giờ cũng đẹp, cũng làm cho người ta dễ thấy bồi hồi khi chạm đến dù chỉ là một mảnh nhỏ. Chính vì vậy mà có lẽ chẳng bao giờ thời gian có thể làm phôi pha những tên gọi Trưng Vương, hay Gia Long, Đồng Khánh, hay trường Văn Khoa, trường Luật trong ký ức của những người một thời thuộc về nơi đó. Đi đôi với những hoài niệm còn là niềm tự hào, khi mà sau một đoạn đường dài gặp lại nhau, họ chào nhau bằng tên gọi của chính ngôi trường ngày cũ.

“Người từ trăm năm về qua trường Luật
Người từ trăm năm về qua trường Luật
Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
Thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi
Đau lòng ta muốn khóc
Đau lòng ta muốn khóc…”

For this message the author Duyên Chi has received thanks: 4
BinhMinh(Mon May 23, 2016 10:37 am), hat@(Mon May 23, 2016 1:35 pm), lachong(Mon May 23, 2016 11:21 am), Ngô Đồng(Tue May 24, 2016 1:34 am)
Rating:25%
 
Duyên Chi
 
Posts: 7372
Images: 33
Joined: Wed Sep 01, 2010 7:03 am
Has thanked: 33943 times
Have thanks: 25834 times

​Thanh Lan, tiếng hát của tài và sắc - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby hat@ » Thu Jun 30, 2016 1:37 pm

​Thanh Lan, tiếng hát của tài và sắc

Cát Linh, phóng viên RFA
26-06-2016


Image

Ca sĩ Thanh Lan trong đại nhạc hội tại trường Talbert năm 1972. Courtesy FB Nghệ sĩ Thanh Lan


Có một người nghệ sĩ mà nếu gọi cô là ca sĩ, hay tài tử điện ảnh đều đúng, vì với vai trò nào cô cũng toả sáng. Với dòng nhạc nào, Việt, Pháp, Mỹ thì cô cũng để lại trong lòng người hâm mộ những ca khúc gắn với tên mình như Bang Bang, Triệu đoá hoa hồng, Apres Toi, Trưng Vương khung cửa mùa thu, Trăm nhớ ngàn thương...

Đó chính là ca sĩ, tài tử điện ảnh, “Tiếng hát học trò” Thanh Lan.

“Trả lại em yêu khung trời đại học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát
Bước chân trên đường vẫn chưa phai nhạt…” (Trả lại em yêu)

“Đó là một quãng đời rất đáng nhớ của Thanh Lan. Trường đại học văn khoa nằm kế bên đài truyền hình. Nên đôi khi mình đi qua trường, nghe thầy giảng xong, lại ‘tà tà’ đi xuống lầu, bước qua ngay bên cạnh, đi vào những căn phòng mát mẻ của đài truyền hình, thay một chiếc áo dài hoa khác, thâu một bài hát tình cảm mà mình yêu thích. Cuộc sống của Thanh Lan lúc đó đẹp như mơ vậy đó.”

Người em văn khoa


Thanh Lan đến với âm nhạc rất sớm. Lúc 9 tuổi cô đã làm quen với phím đàn piano trong trường tiểu học Saint Paul, một trường dòng nội trú nổi tiếng dành cho con gái của những gia đình trưởng giả. Kiến thức nhạc lý vững vàng cộng với niềm đam mê ca hát, mà cô gọi là “một hobby của lúc nhỏ”, đã đưa đến tiếng hát của cô bé Thanh Lan đến với thính giả đài phát thanh lúc cô 12 tuổi.

“12 tuổi thì Thanh Lan được ông thầy piano giới thiệu với nhạc sĩ Nguyễn Đức trong ban thiếu nhi Nguyễn Đức của đài phát thanh Sài Gòn. Mỗi chủ nhật Thanh Lan lên đó thâu trong đài phát thanh với các bạn. Đi hát không có nghĩa là bỏ học. Hát đối với Thanh Lan hồi nhỏ như là một hobby cuối tuần mình làm cho vui vậy.”

Cái thời người ta chưa quen với hai từ truyền hình, mà thay vào đó là “lên tivi” thì cô nữ sinh trung học Marie Curie, Thanh Lan đã “lên tivi” xuất hiện trước khán thính giả năm 16 tuổi.

“Vì Thanh Lan ở trong chương trình của sinh viên học sinh, sau đó, những người trưởng ban nhạc của chương trình khác thấy đâu ra một người cũng xinh xinh, hát cũng được nên họ mời tham gia. Hồi đó đối với Thanh Lan đi thâu tivi là một niềm vui. Cái vui đầu tiên là tự mình xem mình được. Cái thời đó tivi đen trắng thôi, nhưng thích lắm.”

Thế rồi, Thanh Lan được biết đến vào những năm sau đó như một hiện tượng trong làng ca nhạc. Khi nhắc đến Thanh Lan, người ta lại nghĩ ngay đến những ca khúc tình yêu thơ mộng, nhẹ nhàng, in đậm hình ảnh của những tà áo dài mỗi chiều đi về ngang qua con đường Duy Tân, nghĩ đến ngôi trường văn khoa với những đôi mắt ngà.

Được biết đến với hình ảnh của một ca sĩ thành công với những tình khúc Pháp lãng mạn, trữ tình, thế nhưng chính những ca khúc nhạc Việt và dân ca ba miền đã được cô chọn để trình diễn khi xuất hiện trên truyền hình trong giai đoạn đầu đi hát.

“Con đường nào ta đi
Với bàn chân nhỏ bé
Con đường chiều thủ đô
Con đường bụi mờ…” (Con đường tình ta đi)


Image

Thanh Lan trong vai cô hàng hoa trong phim hài Xóm Tôi (1974). Courtesy FB Nghệ sĩ Thanh Lan

“Những bài Thanh Lan thích hồi thời đó là Con đường tình ta đi, trong bài ấy có câu ‘Hỡi người tình văn khoa’; dĩ nhiên có Trăm nhớ ngàn thương; Ô kìa đời bỗng dưng vui của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ; bài Đố ai; hát dân ca ba miền…Tên tuổi của Thanh Lan đến với khán giả nhiều nhất là thời điểm đó.”

Thanh Lan cũng chính là ca sĩ đầu tiên trình bày ca khúc Trăm nhớ ngàn thương của nhạc sĩ Lam Phương.

“Mất em rồi, xa em rồi
Hoa đã tàn, nhụy đã phai
Chiều hôm nay trời thanh vắng anh đi về, về với ai
Một người đi, một người sầu
Nhìn hoa úa buồn về mau
Đôi chân mòn tìm dư âm hè phố vắng
Lòng còn thương, tình còn nồng
Mà đêm nhớ, ngày chờ mong
Bao thu rồi nhìn lá chết rơi ngoài song…” (Trăm nhớ ngàn thương)

“Một người nghệ sĩ trước khi ra mắt khán giả thì phải bỏ hết tâm tư như thế nào để mà chuyển tải đến khán thính giả tâm sự của người nhạc sĩ. Tuy nhiên khi mà mình hát lên thì đó không phải chỉ là tâm sự của người nhạc sĩ nữa, mà có thêm cả tâm sự của mình trút vào bài hát đó. Do vậy khi mà khán thính giả xem thì sẽ để ý tuy là cùng một bài hát nhưng mỗi một ca sĩ hát khác nhau đúng không?”

Đúng là như thế. Nếu ca khúc Trăm nhớ ngàn thương của nhạc sĩ Lam Phương sẽ kiêu kỳ, đài các với tiếng hát Ý Lan, thì Trăm nhớ ngàn thương qua tiếng hát của Thanh Lan trở nên ngọt ngào, tự nhiên, tràn đầy sức sống ẩn chứa trong câu chuyện tình buồn của bài hát.

Những ca khúc trữ tình của Phạm Duy, Đỗ Lễ, Nguyên Sa…qua tiếng hát ngọt ngào, trong vắt như màu sương sớm của cô làm cho người nghe có cảm giác như được lạc vào một thế giới tràn ngập ánh sáng của tình nhân loại.

“Không có quãng đời nào đẹp như thời gian còn đi học. Mặc dù lúc đó nổi tiếng rồi nhưng tâm tư của mình vẫn còn là tâm tư của một nữ sinh viên, chưa phải là người phải ra đời để đấu đá và kiếm sống. Sự nổi tiếng đến với mình tình cờ chứ không phải là cố gắng tìm nó.”

‘Hát nhạc Pháp vì ít người hát’


Cô sinh viên trường văn khoa sau đó gia nhập ban nhạc Hải Âu của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, ban nhạc đầu tiên chọn phong cách Việt hoá nhạc trẻ ở Sài Gòn. Tiếng hát trong trẻo, hồn nhiên, cách phát âm tròn, rõ cộng với khả năng Pháp ngữ của cô thiếu nữ học trường Tây đã giúp cho Thanh Lan nổi tiếng với những ca khúc Pháp hoặc nhạc Pháp lời Việt.

“Tu t’en vas
L’amour a pour toi
Le sourire d’une autre, je voudrais mais ne peux t’en vouloir…” (Apres Toi – Vắng bóng người yêu)

Đây cũng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phong trào nhạc trẻ Việt Nam. Những năm 67, 68, Thanh Lan không phải là ca sĩ duy nhất hát nhạc Pháp. Nhưng cô được khán giả thời ấy, và có thể nói là cho đến tận bây giờ, biết đến cô là một ca sĩ hát nhiều nhạc Pháp nhất.

Thanh Lan học trường Pháp đến 15 năm. Cho nên phải nói là sự suy nghĩ và kiến thức văn hoá hoàn toàn theo Pháp. Với lại mình nên làm những gì người ta ít làm. Nhạc Mỹ thì nhiều người hát quá rồi, thôi mình hát nhạc Pháp đi.”

Một ca khúc Pháp khác mà khi nhắc đến, người ta sẽ nghĩ ngay đến tiếng hát trong trẻo, vui tươi của ca sĩ Thanh Lan.

“Khi xưa đôi ta bé ta chơi
Đôi ta chơi bắn súng khơi khơi
Chơi công an đi bắt quân gian
Hiên ngang anh giơ súng ngay tim: Bang! Bang…” (Bang bang)

Như đã nói, Thanh Lan t​ỏa​ sáng không chỉ trong sự nghiệp ca hát, mà người ta còn biết đến Thanh Lan là một nữ tài tử điện ảnh. Vào năm 1970, sự nghiệp điện ảnh của Thanh Lan bắt đầu, khi cô đóng vai chính trong bộ phim Tiếng hát học trò của đạo diễn Thái Thúc Nha. Với vai diễn đầu tay này, cô đã đoạt giải nữ diễn viên triển vọng nhất của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật năm 1971.

“Đã làm gì thì mình phải làm cho hết lòng hết sức. Hai là trong trường có môn học về văn chương, văn chương Pháp. Rồi sau khi lên đại học thì học văn chương Anh, văn chương Mỹ. Trong văn chương có thơ, có kịch. Khi mình học thơ, học kịch thì trong những vở kịch nổi tiếng của thế giới thì mình biết rằng mình phải phân tích tâm lý nhân vật. Thanh Lan cũng áp dụng điều đó trong bài hát. Khi mình hát, mình cũng phải phân tích tâm lý nhân vật trong bài hát. Hát bài đó họ muốn nói gì và trong câu đó họ muốn nhắn nhủ gì, chứ không phải hát một kiểu từ đầu đến cuối bài.”

Với rất nhiều người thuộc thế hệ của con đường Duy Tân, của trường Văn khoa, trường Luật ở Sài Gòn ngày cũ, tiếng hát Thanh Lan mãi mãi được nhắc nhớ như kỷ niệm của một thời mộng mơ, của tài năng và tình yêu cuộc sống.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Fri Jul 01, 2016 1:29 am), Duyên Chi(Fri Jul 01, 2016 6:51 am), lachong(Fri Jul 01, 2016 2:08 am), Ngô Đồng(Fri Jul 01, 2016 5:04 am)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

​Những tình khúc dành cho biển - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby hat@ » Wed Jul 06, 2016 1:06 pm

​Những tình khúc dành cho biển

Cát Linh, phóng viên RFA – 03-07-2016

Image

Hình ảnh minh họa. Courtesy photo


Trong suốt mấy tháng qua, chúng ta nghe/đọc/nói rất nhiều về một từ, đó là “Biển”. Một từ rất đơn giản, quen thuộc với tất cả mọi người từ lúc mới bắt đầu “học ăn, học nói” và cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca, nhưng lại có thật nhiều ý nghĩa. Biển mang một ý nghĩa và màu sắc riêng đối với từng giai đoạn, và từng hoàn cảnh.

Mời quí vị cùng Cát Linh điểm những bản tình ca tiêu biểu dành riêng cho biển, được sáng tác trong những giai đoạn khác nhau trong gần 40 năm qua.

Trong bài viết, xin trích dẫn những bài thơ về biển như Biển Cạn của Nguyễn Trung Nghĩa, Biển Bờ của Đinh Thu Hiền và Sóng của Xuân Quỳnh, qua sự thể hiện của Chân Như và Hoà Ái đài Á Châu Tự do.

“Ngày mai em đi
Biển nhớ tên em gọi về
Gọi hồn liễu rũ lê thê
Gọi bờ cát trắng đêm khuya
Ngày mai em đi
Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ
Sỏi đá trông em từng giờ
Nghe buồn nhịp chân bơ vơ…” (Biển nhớ)

Từ muôn đời nay, chỉ một từ đơn giản thôi, “biển”, nhưng đã và sẽ là đề tài muôn thưở cho biết bao thi nhân văn nghệ sĩ. Tiếng gọi nhẹ nhàng, trầm thấp, và chắc chắn không ai có thể cao giọng khi muốn gọi “biển” làm cho người ta luôn thấy lòng mình lắng đọng hẳn.

Biển là bạn, là người tình

Để rồi người ta phải luôn muốn tìm đến với biển như tìm đến một người bạn tri âm tri kỷ. Biển vui khi người vui. Biển buồn khi người buồn. Biển hiểu thấu tâm tư của con người như máu chảy trong tim.

Image

Hình ảnh minh họa

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đã từng tìm đến với biển trong những phút giây mà tâm tư của ông chất đầy nỗi nhớ. Và biển, cũng đã mang nỗi nhớ cùng với ông.

Hơn nửa thế kỷ qua, Biển nhớ, ra đời năm 1962 vẫn là một bản tình ca đầy hoài niệm cho tất cả những tâm hồn yêu biển và những ai đang yêu nhau.

Câu chuyện lưu truyền rằng Trịnh Công Sơn viết ca khúc trữ tình này sau nhiều đêm ngồi trên bãi biển Quy Nhơn để nhớ đến một người con gái tên gọi Bích Khê, người mà ông thầm yêu trộm nhớ. Ông đưa cả tên mình và tên của người con gái ấy vào trong ca khúc, nói rằng chính trời xanh kia đã “níu bước Sơn Khê”.

Nếu biển của Trịnh Công Sơn sẽ dậy sóng, sẽ phủ rêu phong trên những tảng đá, sẽ bâng khuâng gọi thầm nếu ngày mai người con gái ấy ra đi, thì biển của Phú Quang sẽ dài rộng hơn nữa nếu “em xa anh”

“Em xa anh, trăng cũng chợt lẻ loi thẫn thờ
Biển vẫn thấy mình dài rông thế
Xa cánh buồm, một chút đã cô đơn
Gió âm thầm không nói
Mà sao núi phải mòn…” (Biển, nỗi nhớ và em)

Người nhớ biển. Biển nhớ thuyền. Thuyền nhớ sóng. Thật tự nhiên như tạo hoá đã định. Con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ. Dẫu xa tít ngoài đại dương, sóng vẫn vượt bao cách trở để tìm đến bờ.

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa (Sóng – Xuân Quỳnh)

“Biển sóng biển sóng đừng xô tôi
Đừng cho tôi thấy hết tim ngườ
Biển sóng biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng về đâu
Giấc ngủ nào giường chiếu quạnh hiu
Trăng mờ quê cũ
Người đứng chờ gió đồng vi vu
Vạt nắng vàng nhắc lời thiên thu
Nhớ ngàn năm trôi qua
Biển sóng biển sóng đừng trôi xa
Bao năm chờ đợi sóng gần ta
Biển sóng biển sóng đừng âm u
Đừng nuôi trong ấy trái tim thù
Biển sóng … biển sóng … đừng xô nhau” (Sóng về đâu)

Thế nhưng…

Nào phải lúc nào biển cũng nhẹ nhàng dịu êm với mây trời lãng đãng. Biển về đêm huyền bí. Biển mạnh mẽ trong những ngày giông tố.

Với rất nhiều người, biển là nơi bắt đầu và cũng là nơi kết thúc.

Với rất nhiều người, biển mãi mãi là nhân chứng của một ký ức chứa đầy hy vọng lẫn sợ hãi, của những tháng ngày đầy hiểm nguy và trắc trở.

“Đêm nay anh gánh dầu ra biển anh chôn
Anh chôn, chôn hết cả những gì của yêu thương
Anh chôn, chôn mối tình chúng mình
Gửi lại em trăm nhớ ngàn thương
Hò ơi! Hò ới! tạm biệt nước non.
Đêm nay đêm tối trời anh bỏ quê hương
Ra đi trên chiếc thuyền
Hy vọng vượt trùng dương
Em đâu đâu có ngờ đêm buồn
Bỏ lại em cay đắng thật thương
Hò ơi! Hò ới! tạm biệt nước non…” (Đêm chôn dầu vượt biển)

Khi vượt qua tất cả, nơi đầu tiên họ tìm về, chính là biển. Đứng trước trời đất và biển rộng bao la, cảm nhận cái vị mằn mặn muôn đời của biển, để thấy rằng mình và biển thân thiết biết bao nhiêu.

Có một lần tôi lại về nơi ấy
Nơi có biển và nơi có tình em
Một mình tôi giữa hoang lạnh biểm đêm
Mới nhận thấy cuộc đời này trống vắng

Chuyện ngày xưa giờ đã thành giọt đắng
Khiển biển đời đã ngăn cách đôi ta
Khi song gào cuốn tôi xa mãi xa

Những dĩ vãng yêu thương xưa cũ (Biển cạn – Nguyễn Trung Nghĩa)

“Cao ngất trường Sơn, ôm ắp tình thương nước ra sông nguồn, tìm về biển Đông, tình yêu thành sông Thái Bình Dương...” (Biển mặn)

Ngày nay, Biển mặn của Nhật Trường – Trần Thiện Thanh vẫn được người ta thầm hát với nỗi tiếc nhớ về một vùng biển nào đó, giờ đã xa.

“Không có nghĩa mỗi lần sóng vỗ
Là nồng nàn hôn cát đâu anh!
Vâng em hiểu ngoài khơi vừa ngập gió
Đưa sóng vào rồi đẩy sóng xa thêm…
Không có nghĩa những con tàu đêm đêm
Chưa ngủ bởi hải đăng còn thao thức
Thăm thẳm giữa đại dương màu mực
Biết về đâu nếu chỉ một thân tàu?” (Biển bờ - Đinh Thu Hiền)

“Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu …” (Thuyền và biển)

Biển với con người là tri âm tri kỷ đâu phải chỉ vì biển bao dung và hiểu thấu tình của con người, mà biển còn là cuộc đời, là nguồn sống của nhân loại và là một phần của vũ trụ.

Những con thuyền lớn, bé có thể tồn tại và hãnh diện vì sự hữu ích của mình chính là những tháng ngày thuyền lênh đênh trên biển khơi. Ngày xưa, thuyền và biển mang con người đến bến bờ tự do. Ngày nay, biển đã cùng với thuyền làm nên sự sống cho loài người từ những nguồn tài nguyên vô tận trong lòng đại dương xanh thẳm.

Nếu một ngày thuyền không còn được nhìn thấy biển xanh đầy hy vọng và khát khao của một ngày mới, thì ngày ấy, như mối tình của đôi trai gái, ngày quay về người xưa đã không còn..

Tôi giờ như đá núi buồn ủ rủ
Mong em quay về trên đôi cánh hải âu
Để đá núi - tôi - khỏi nhìn biển phai mau
Chợt hoảng sợ khi nhận ra biển cạn
Tôi men theo chút lẻ loi ánh sang
Cố tìm ra những dấu vết ngày xưa
Cố mang về hang triệu triệu cơn mưa
Cố đong đầy biển tình em đã hết (Biển Cạn – Nguyễn Trung Nghĩa)

“Có người từ lâu nhớ thương biển
Ngày xưa biển xanh không như bây giờ biển là hoang vắng
Cùng tôi biển chết
Cùng em biển tan…” (Biển Cạn)

Cứ như thế cuộc đời ngàn năm sóng vỗ. Cũng như biển muôn đời là bạn tâm giao của con người. Biển là tình yêu. Biển là sự sống. Tất cả quay đều và hiện hữu trong vũ trụ này, tự nhiên và thơ mộng. Như Xuân Quỳnh ngày xưa đã thốt lên rằng

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng dẫu đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Thu Jul 07, 2016 12:41 am), Duyên Chi(Thu Jul 07, 2016 3:59 am), lachong(Thu Jul 07, 2016 3:34 am), Ngô Đồng(Thu Jul 07, 2016 3:23 am)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Vũ Khanh, tiếng hát của tình yêu và niềm tin - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby hat@ » Sun Jul 10, 2016 2:03 pm

Vũ Khanh, tiếng hát của tình yêu và niềm tin

Cát Linh, phóng viên RFA
10-07-2016


Image

Ca sĩ Vũ Khanh trong một chương trình ca nhạc. Youtube screenshot


Một người ca sĩ có tiếng nói trầm ấm, làn hơi mạnh mang đậm màu sắc và tình cảm của người Hà Nội đã không hề bị phai nhạt đi cho dù đã hơn 40 năm xa quê.

Đó là tiếng hát Vũ Khanh.

Từ một duyên may…

“Tôi xa Hà Nội năm lên 18 khi vừa biết yêu…” (Nỗi lòng người đi)

Vũ Khanh
là con út trong một gia đình có 11 người anh em và là người duy nhất theo nghiệp đàn ca. Anh nói vui rằng chưa có ông thầy tướng số nào ‘chấm’ cho anh cái mệnh ca sĩ trong lá số tử vi, mà tất cả là:

“Tất cả chỉ là một cái duyên may mắn thôi chứ tôi không phải là một con gà nòi, không phải như là Ý Lan, bố mẹ là nghệ sĩ rồi mình bước vào sự nghiệp ca hát ca tự nhiên như vậy. Tất cả là tình cờ thôi. Hồi đó tại Mỹ này thì anh em nghệ sĩ chưa nhiều, mình chỉ là một nhóm anh em sinh viên đi học rồi ngao nghêu những buổi văn nghệ bỏ túi. Quay qua quay lại ở bên này đã 40 năm rồi, và tôi đóng góp cũng trên 30 năm trong lĩnh vực ca nhạc này.”

Bản nhạc đầu tiên mà tôi bước lên sân khấu là bản nhạc Cô hàng nước của anh Vũ Huyến.

“Anh còn còn có mỗi mỗi cây đàn
Anh đem là đem anh bán nốt
Anh theo, theo cô hàng, hàng chè xanh
Tình tính tang, tang tính tình
Cô hàng rằng, cô hàng ơi
Rằng có nhớ, nhớ hay chăng…” (Cô hàng nước)

Với ca khúc Cô hàng nước, chàng thanh niên Vũ Công Khanh đã chinh phục hơn 5000 khán giả của đêm đại nhạc hội ở San Diego năm đó, năm 1978. Và cũng chính Cô hàng nước là nốt nhạc đầu tiên mở đầu cho bản tình ca hơn 30 năm về cuộc đời nghệ sĩ của Vũ Khanh.

Để rồi từ đó, anh chính thức bước vào trái tim của khán giả khắp nơi với hình ảnh lãng tử rất riêng của mình và giọng hát trầm ấm thấm sâu vào lòng người.

Khi kể lại kỷ niệm của đêm khởi đầu ấy, Vũ Khanh không nghĩ rằng chỉ “từ việc cầm đàn, hát những bản nhạc như một thói quen, rồi đón nhận những lời khen. Từ những lời khen đó, mình bắt đầu gia nhập vào những sinh hoạt văn nghệ, rồi trở thành ca sĩ của hải ngoại từ lúc nào tôi cũng không biết nữa.”

“Hôm xưa tôi đến nhà em
Ra về mới nhớ rằng quên, quên cây đàn…” (Cây đàn bỏ quên)

Theo như lời kể lại, ca khúc Cây đàn bỏ quên chính là nấc thang đưa tiếng hát Vũ Khanh tới ngôi vị cao của nền âm nhạc Việt Nam hải ngoại.

Rất nhiều nhạc sĩ nổi tiếng chỉ sau một lần nghe tiếng hát của Vũ Khanh đã gửi gắm cho anh niềm tin đối với những tác phẩm đầu tiên của mình. Đó là những nhạc phẩm chưa được giới thiệu với người nghe. Người nhạc sĩ lúc ấy vẫn tìm cho mình một tiếng hát để chuyển tải hết tất cả những điều họ muốn nói bằng lời ca, bằng âm nhạc. Ca khúc “Lời tiền thân của cát” của cố nhạc sĩ họ Trầm, Trầm Tử Thiêng, là một trong những bản nhạc được viết ra để chờ một ngày, ông gặp được Vũ Khanh.

Anh ngồi mãi đó, một chấm nhân sinh
Có hay không có trong cõi vô tình
Anh ngồi mãi đó, Anh ngồi mãi đó, một chấm nhân sinh!
Anh lại trở về bên bờ sông đó
Còn nỗi thương quê mất tròn tuổi nhỏ
Có phải mưa nguồn xóa phăng bờ cát.
Cơn lũ nào tuôn, triền dâu xơ xác.
Tuôn về biển mẹ sâu rộng muôn trùng.
Sông thì nhỏ bé, máu góp sao cùng.
Sông thì nhỏ bé, máu góp sao cùng... (Lời tiền thân của cat)

Có lẽ khi Trầm Tử Thiêng chọn Vũ Khanh để thực hiện ca khúc này, ông đã biết rằng tiếng hát trầm và rõ trong từng âm vực, sắc nét trong những nốt cao lẫn thấp của người ca sĩ này sẽ cùng ông nói lên một triết lý nhân sinh, nhỏ như dấu chấm trong cõi vô tình.

Image

Ca sĩ Vũ Khanh với giọng hát trầm ấm thấm sâu vào lòng người.

“Nó khởi nguồn từ khi tôi gặp anh Trầm Tử Thiêng, ngồi chung máy bay khi đi qua trại Parawang ở Philippines để thăm các đồng bào tỵ nạn bên đó. Khi gặp anh, qua ca khúc ‘Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng’, anh rất quí tôi, anh bảo rằng kỳ này về anh sẽ đưa cho em một số tác phẩm của anh. Khi tôi thực hiện thì anh lại ra đi, người tác giả không ở bên cạnh mình để nói cho mình biết hết tất cả chi tiết của bản nhạc đó. Thế là mình chỉ hát qua những cảm xúc của những âm thanh, melody thôi.”

Chính vì điều này mà sau khi đưa ca khúc “Lời tiền thân của cát” đến với khán thính giả, mặc dù rất nhiều người cho rằng ca khúc này như mặc định dành cho tiếng hát Vũ Khanh, nhưng anh chưa bao giờ hài lòng với lần thu âm ca khúc đó và cả những lần mình trình diễn.

“Có nhiều người khen tôi hát bản đó nhưng thú thật tôi cảm thấy thẹn thùng lắm. Thứ nhất là khó hát. Điểm thứ hai nữa là mình chưa đủ để chuyển tải. Mỗi lần tôi nghe thấy bản đó tôi ấy náy lắm. Nếu có dịp tôi sẽ thâu lại cho thật trọn vẹn hơn. Tôi chưa cho tôi được điểm tốt về bản nhạc đó. Mình cần phải hát hay hơn nữa. 10 phần thì tôi chỉ mới có chuyển tải được mới có 6 thôi. Tôi tiếc là không có anh ấy ở bên cạnh.”

Tiếng hát từ tình yêu

Mỗi một người nghệ sĩ thường hay chọn một dòng nhạc của một nhạc sĩ phù hợp với phong cách và giọng hát của mình. Vũ Khanh tự nhận mình không có cái may mắn ấy.

“Mỗi một ca sĩ đàn anh đàn chị bước lên thì thường có một nhạc sĩ sau lưng. Nhưng khi mình qua bên này, mình không có được may mắn đó, mình tự chọn bản nhạc. Ví dụ như tôi hát nhạc của Trịnh Công Sơn thì làm sao bằng Khánh Ly được nhưng có một bản nhạc mà tôi rất yêu, và có lẽ tôi tự chấm cho tôi, tôi tự khen tôi là tôi chuyển tải đầy đủ, đó là bài ‘Sóng về đâu’ của Trịnh Công Sơn.”

“Biển sóng biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã dưới chân người
Biển sóng biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng về đâu…”(Sóng về đâu)

Hơn 30 năm đi hát, là hơn 30 năm Vũ Khanh gắn liền với những tình khúc bất tử của nhiều nhạc sĩ. Anh là người thể hiện rất thành công các ca khúc nổi tiếng của nhiều người như Trầm Tử Thiêng, Phạm Duy, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Song Ngọc…

Người ta có thể nghe một Vũ Khanh “rất Hà Nội” với Hà Nội ngày tháng cũ của Song Ngọc thì cũng có thể nhìn thấy một Vũ Khanh rất hào hoa, lãng mạn với Áo lụa Hà Đông.

“Tôi thích những bản nhạc thơ mộng hơn. Một bản nhạc như ‘Ta đưa em vào cõi chết’ và một bản là ‘Áo lụa Hà Đông’ sẽ khác nhau nhiều lắm. Nếu có chọn lựa thì tôi sẽ chọn Áo lụa Hà Đông vì nó thơ mộng, nó lãng mạn. Những hình ảnh nó tác dụng đến đời sống của mình.”

Nếu có người đã từng ví von rằng “nửa đêm nghe Sỹ Phú hát như đắp chăn bông vào người” thì tiếng hát của Vũ Khanh làm cho người ta cảm thấy như từng nốt nhạc đang chạy thẳng vào huyết mạch của họ, như họ đang được kể cho nghe một câu chuyện vừa mới ngày hôm qua, trên trần thế, nơi phố núi đầy sương.

“Phố núi cao phố núi đầy sương.
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn.
Anh khách lạ đi lên đi xuống.
May mà có em đời còn dễ thương.
Em Pleiku má đỏ môi hồng đây buổi chiều quanh năm mùa đông.
Nên tóc em ướt và mắt em ướt...” (Còn chút gì để nhớ)

Rồi cũng có những khi, tiếng hát trầm ấm của Vũ Khanh như chia sẻ cùng người nghe những hương vị đắng, cay, ngọt, mặn, khi cao vút, khi thủ thỉ nhẹ nhàng sâu tận trong tim.

“Khi em về chừng như sang đông
Trời tháng năm mà nghe lành lạnh
Khi em về ngồi nghe biển hát
Chiều qua nhanh như em xa anh…” (Tiễn đưa)

Và niềm tin, độ lượng

Khi Vũ Khanh hát một ca khúc, người nghe có thể cảm nhận như anh đang ôm trọn cả bản nhạc ấy vào trong từng câu từng chữ. Lúc đó, mỗi một nốt nhạc anh hát lên, tình tứ, nhẹ nhàng, có cả vị tha và độ lượng.

“Ta cho em tất cả. Hỡi nụ hôn tình đầu!
Bây giờ tình tan vỡ, ta còn lại thương đau
Ta yêu em lầm lỡ. Ôm vòng tay dại khờ.
Em là loài hoang thú. Ta vất vả tinh khôn.
Loài cổ hoang (ngu si) mắt mờ.
Bạc vàng phấn son mơ.
Nơi mộ hoang lạc thú. Em bướm hồng lửng lơ
Ôi! Chông gai đầy lối. Cất bước đi về đâu
Một lần ta lầm lỡ, Trăm đường còn sầu đau!” (Ta yêu em lầm lỡ)

Ta yêu em lầm lỡ là một ca khúc của cố nhạc sĩ Phạm Duy. Ai đã từng nghe Vũ Khanh thể hiện ca khúc này chắc chắn sẽ giật mình ngoảnh lại vì “bản nhạc này tôi hát cách đây cũng khoảng 25 năm rồi.”

Tất cả những tác phẩm của người nghệ sĩ khi được tạo ra từ trái tim thì chắc chắn sẽ đi đến hàng triệu trái tim khác. Vũ Khanh hát bằng chính những thăng trầm của cuộc đời mình, cộng với niềm tin tôn giáo mà anh có được đã góp phần làm cho tiếng hát của anh độ lượng càng thêm độ lượng.

“Chuyện người đàn bà 2000 năm trước
Áo rách tả tơi, xác thân mệt nhoài.
Chuyện người đàn bà nơi thành cổ đó
Dấu tích hành thân.
Vì đâu? Vì đâu? Vì đâu,
Nên tội tình mang nhục hình.
Vì yêu, tội yêu, tội tình yêu…” (Chuyện người đàn bà 2000 năm trước)

“Tôi hiểu về kinh thánh, và tôi biết được câu chuyện kinh điển về người đàn bà bị phạm tội và bị ném đá.

Bản nhạc này được thể hiện cái kinh điển của kinh thánh, vừa nói được cuộc đời vừa nói trong lĩnh vực về tâm linh nữa. Hai mặt của cuộc đời, nên nó có một ý nghĩa đối với tôi. Nếu kết tội một người khác thì mình nhìn mình xem mình có tội hay không. Mình chưa phạm tội thì đó là một cái may mắn của mình. Biết đâu ngày hôm nay mình phạm tội thì sao. Tôi bám vào triết lý sống đó mà tôi răn dạy tôi.”


Vũ Khanh đến với âm nhạc với tình yêu trân trọng như niềm tin anh dành cho Đức Chúa trời của mình. Chính vì thế mà những ca khúc nói về triết lý nhân sinh hay những tình yêu có màu sắc của thánh đường được anh diễn tả rất trọn vẹn và sâu lắng.

“Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn
Áo nhuộm hoàng hôn
Áo nhuộm hoàng hôn
Bóng ai cắp rổ cắp rổ lên cồn
Lên cồn hái dâu hái dâu…” (Gọi em là đoá hoa sầu)

“Gọi em là đoá hoa sầu là cảm xúc của một tu sĩ khi ông gục đầu trên bàn và ông ấy mơ. Mơ về những hình ảnh đẹp.”

Không phải là tu sĩ, không phải là người rao giảng kinh thánh, cũng không phải người sinh ra trong gia đình nghệ thuật, nhưng bằng tình yêu và niềm tin của mình, tiếng hát trầm ấm như ru hồn người của người đàn ông lãng tử đã mang đến cho cuộc đời những khúc tình ca đẹp và trong như ngôi giáo đường. Tuổi trẻ rồi sẽ qua. Người rồi sẽ xa. Tác phẩm và tiếng hát sẽ còn mãi. Những gì Vũ Khanh muốn gửi lại cho một “chấm nhân sinh” trong cuộc đời này là sự bình lặng và sự cân bằng trong một kiếp.

“Anh ngồi mãi đó, một chấm nhân sinh
Có hay không có trong cõi vô tình
Xin làm hạt cát quay bến sông này.
Xin làm kiếp khác thay kiếp bèo mây...”

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Mon Jul 11, 2016 1:47 am), Duyên Chi(Sun Jul 10, 2016 2:19 pm), lachong(Mon Jul 11, 2016 1:54 am), Ngô Đồng(Sun Jul 10, 2016 6:20 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Mùa thu của Đặng Thế Phong qua lời của danh ca Tâm Vấn - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby hat@ » Tue Jul 26, 2016 12:51 pm

Mùa thu của Đặng Thế Phong qua lời của danh ca Tâm Vấn

Cát Linh, phóng viên RFA - 24-07-2016

Image

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong và sáng tác Con thuyền không bến. Youtube screenshot


Có những người nhạc sĩ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình chỉ để lại cho thế nhân số ca khúc đếm không hết một bàn tay.

Đó là cố nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong cùng ba ca khúc bất hủ với những lời nhắc nhớ về ông của một nữ danh ca đã hát nhạc của ông cách đây 71 năm, nữ danh ca Tâm Vấn.

“Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” (Giọt mưa thu)

“Thời đó ai cũng nghêu ngao ở miệng hết… Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi… Tùy tình cảm của mỗi người mà cho những dấu hỏi, huyền, ngã nó rõ ràng hơn. Có người thì cho nó nhẹ, có người cho nó rõ.”

[i]Giọt mưa thu
, hay còn gọi là Vạn cổ sầu, là tên đầu tiên cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong đặt cho ca khúc được ông viết vào đầu năm 1941, cũng là bài hát cuối cùng trong cuộc đời tài hoa nhưng bạc mệnh của ông.[/i]

Đặng Thế Phong là một trường hợp, một nhạc sĩ rất đặc biệt của âm nhạc Việt Nam. Cho đến nay, khi nhắc đến Đặng Thế Phong, người ta sẽ chỉ nghĩ và nghĩ ngay đến ba ca khúc bất hủ, Đêm thu, Con thuyền không bến và sáng tác cuối cùng của ông, Giọt mưa thu.

“Ba bài hát đó là từ năm 1945, có thể trước nữa nhưng tôi đánh mốc là cái thời nổi nhất của ông ấy là người ta hát 3 bài hát đó. Ngay cả người không biết chữ mà cũng biết hát ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Hát theo kiểu bình dân cũng có, hát theo kiểu sang sang cũng có. Ngay bản thân tôi cũng từng hát ba bài hát này vào năm 1945, ở Hà Nội.”

Tài hoa, bạc mệnh

Theo một số tài liệu không rõ nguồn, được lan truyền trên những trang văn nghệ thì ghi lại rằng Đặng Thế Phong là một chàng trai tài hoa, đàn hay hát giỏi, lại mang vẻ đẹp mong manh của cô thiếu nữ với môi đỏ như son. Ông cũng từng theo học dự thính trường Đại học mỹ thuật Đông Dương. Cũng từ đây mà có một giai thoại được lưu truyền rằng Đặng Thế Phong từng vẽ một nhánh cây rất đẹp không có ngọn. Thầy dạy của ông đã khen ngợi bức tranh ấy nhưng cũng tỏ ý lo ngại cho một vận mệnh ngắn ngủi của Đặng Thế Phong.

Không ngờ sự tiên đoán ấy đã trở thành sự thật khi Đặng Thế Phong giã biệt cuộc đời vào năm 24 tuổi.

24 năm trên cõi đời, sáng tác đầu tay là một đêm thu, năm 1940, với khu vườn đầy ánh trăng lan dịu và một tâm hồn say khướt theo màu trăng.

“Vườn khuya trăng chiếu
Hoa đứng im như mắc buồn
Lòng ta xao xuyến
Lắng nghe lời hoa
Cánh hoa vương buồn trong gió
Áng hương yêu nhẹ nhàng say
Gió lay…” (Đêm thu)

Nữ danh ca Tâm Vấn cho biết Đêm thu là ca khúc bà yêu nhất trong ba nhạc phẩm của Đặng Thế Phong, và là ca khúc mà bà đã hát cách đây 71 năm.

“Cái thời 1945 họ đã dựng múa bài Đêm thu rồi. Tôi đã được xem ở Nhà hát lớn Hà Nội 1945. Sau này tôi hát ở Đài phát thanh Hà Nội thì tôi rất mê bài đó. Tôi mê nhất bài Đêm thu, nó lả lướt, nó ướt át, nó mơ màng, lãng mạn. Chứ còn Giọt mưa thu nó thê thảm quá, tôi không hát nhiều. Những bài kia thì hay thật, Con thuyền không bến, Giọt mưa thu thì tuyệt vời thật. Thời đó ba bài của ông Đặng Thế Phong thì lẫy lừng ở Hà Nội, gần như là ai cũng biết, từ người mù chữ cho đến người nghe nhạc đều mê.

Thu định mệnh

Như một định mệnh, cả ba ca khúc nổi tiếng trong cuộc đời sáng tác của Đặng Thế Phong đều nói về mùa thu.

Ngoại trừ Đêm thu là ca khúc đầu tay, thì Con thuyền không bến và Giọt mưa thu được kể lại rằng do Đặng Thế Phong sáng tác trong nỗi nhớ quay quắt về người con gái có tên gọi là Tuyết.

Image

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong, sinh ngày 5 tháng Tư năm Mậu Ngọ (tức năm 1918) ở phố Hàng Đồng, xứ Nam Định. Courtesy of hoinhacsi.org

“Đêm nay thu sang cùng heo mây
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…” (Con thuyền không bến)

Mùa thu vốn dĩ đẹp, nhưng buồn. Đã thế, lại còn đêm thu, tất cả cảnh vật, cuộc sống hiện hữu trong ca khúc của Đặng Thế Phong đều là những hoạt động diễn ra trong trời đêm mùa thu. Con thuyền thì không bến; thu sang cùng với heo mây; giọt mưa thu rơi hoà cùng tiếng khóc than hờ…

“Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” (Giọt mưa thu)

Nhất cử nhất động trong tâm hồn và âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có thể gói gọn trong một chữ “buồn”.

Và ai yêu nhạc của ông đều biết rằng ngay từ ca khúc thứ hai, là Con thuyền không bến, nhạc sĩ đã nhuốm bệnh lao. Điều này được danh ca Tâm Vấn xác nhận chính là nỗi niềm ông đặt vào sáng tác của mình.

“Tâm sự của ông ấy, thời đó là thời khó khăn. Ông ấy lại bị bệnh lao nữa. Lao thời đó đâu có thuốc thang chữa nổi.”

Con thuyền không bến tuy vẫn là giai điệu nhẹ nhàng, còn vương chút âm hưởng Tây phương của Đêm thu nhưng đã bắt đầu chất chứa những hình ảnh chênh vênh và âm thanh của lòng trắc ẩn.

“Lướt theo chiều gió một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng
Biết đâu bờ bến, thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu?
Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu
Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng
Biết bao buồn thương, thuyền mơ buông trôi xuôi dòng
Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong…”

Rồi khi đến Giọt mưa thu, thì hoàn toàn là một bức tranh thu u ám. Cái nghèo, cái buồn, cái cô độc bao trùm lên khắp nhạc điệu, len lỏi trong từng ca từ của nhạc khúc. Đặng Thế Phong hoàn thành sáng tác này ngay trên giường bệnh.

Đông Tây giao hòa

Tài hoa của Đặng Thế Phong được giới nghiên cứu âm nhạc và nghệ thuật chỉ ra rằng chính do ông đã kết hợp hài hòa giữa nhạc Tây phương và giai điệu ngũ cung. Nói một cách khác là “Đông Tây giao hòa”. Tất cả ba ca khúc của ông được xem là những ca khúc tiên phong của tân nhạc Việt Nam.

“Nhạc thời đó là ảnh hưởng của nhạc Tây phương truyền qua. Hồi đó gọi là viết nhạc thôi chứ cũng chưa gọi là âm nhạc cải cách theo miền Bắc hay nhạc mới theo miền Nam. Miền Bắc thì gọi là âm nhạc cải cách để so sánh với nhạc cổ. Nhạc cổ ngày xưa của mình chỉ có hát trống quân, ả đào. Các ông ấy học hành Tây phương rồi thì các ông ấy ảnh hưởng của nhạc Tây phương. Ví dụ như ‘Vườn khuya trăng chiếu hoa đứng im như mắt buồn. Lòng ta xao xuyến lắng nghe lời hoa. Cánh hoa vươn buồn trong gió…’

Theo lời của nữ danh ca Tâm Vấn, Đặng Thế Phong và những nhạc sĩ cùng thời với ông là những người được hưởng nền giáo dục phương Tây, nhất là Pháp. Do đó, từ giai điệu cho đến lời ca của họ bàng bạc phong thái trữ tình, nhẹ nhàng của điệu valse lãng mạn.

“Thời ấy là thời Johann Strauss, có các bài như One day when we were young, Ngày ấy khi xuân ra đời, Một trời bình minh… Những bài Valse…”

24 năm đối với chiều dài của một cuộc đời thì quả là ngắn ngủi. Nhưng sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong để lại thì kéo dài qua nhiều thế hệ. Mùa thu của Đặng Thế Phong qua bao nhiêu năm tháng vẫn mãi mãi là mùa thu của tình yêu vô vọng, mùa thu của phận đời, phận người nghiệt ngã, mùa thu của tài hoa nhưng bạc mệnh, mùa thu của Đặng Thế Phong.

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Wed Jul 27, 2016 12:43 am), Duyên Chi(Wed Jul 27, 2016 2:40 am), lachong(Wed Jul 27, 2016 4:43 am), Ngô Đồng(Tue Jul 26, 2016 9:13 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Thái Thanh, hơn nửa thế kỷ ‘khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’ - Cát Linh, phóng viên RFA

Postby hat@ » Thu Aug 11, 2016 1:16 pm

Thái Thanh, hơn nửa thế kỷ ‘khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’

Cát Linh, phóng viên RFA
07-08-2016


Image

Nữ ca sĩ Thái Thanh. Courtesy of nhaccuatui.com


Một đêm mùa đông cách đây gần 40 năm, những người từng hoạt động trong phong trào thanh niên sinh viên tại Sài Gòn trước năm 1975 gặp nhau tại tư gia của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích ở Virginia, Hoa Kỳ. Cố nhạc sĩ Phạm Duy, người hiện diện trong đêm hôm ấy chợt thốt lên:

“Bây giờ mà nghe tiếng hát Thái Thanh thì sướng bỏ một đời.”
“Đêm về trên bánh xe lăn.
Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng.
Tìm tôi đèn thắp hai hàng.
Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây.
Ngỡ hồn tu xứ mưa bay.
Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa…” (Đêm nhớ trăng Sài Gòn)

Lúc ấy, nữ danh ca Thái Thanh vẫn còn ở Việt Nam.

Nhà văn Phạm Xuân Đài nhớ lại:

“Sau 1975, theo tôi được biết thì bà Thái Thanh ở lại trong nước, bà từ chối không hát gì hết. Bà giữ im lặng, không xuất hiện trước công chúng. Tôi có một câu chuyện là khi Thanh Tâm Tuyền ở tù về, Thái Thanh có đến thăm và hát cho Thanh Tâm Tuyền nghe một số bài hát phổ nhạc từ thơ của Thanh Tâm Tuyền, trong tình cảm bạn bè với nhau chứ không xuất hiện trước công chúng.” (nhà văn Phạm Xuân Đài)

Rất nhiều danh xưng được đặt ra dành tặng riêng cho bà, nữ danh ca của Việt Nam từ những năm 50. Người miền Nam thời bấy giờ gọi bà là “đệ nhất danh ca”. Nhà văn Mai Thảo cuối thập niên 60 tặng cho bà cái tên “Tiếng hát vượt thời gian”. Người nghe nhạc Phạm Duy gọi bà bằng hình ảnh của “Tiếng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.

Tiếng hát cho quê hương, cho tình Mẹ

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời…” (Tình ca)

“Nghe Thái Thanh hát mới thấy thấm thía thế nào là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi nghe Thái Thanh hát bài Tình ca của Phạm Duy. Mỗi chữ Thái Thanh hát ra như một giọt nước mắt của người Việt Nam sống xa quê hương.”

Đó là tâm trạng của nhà thơ Trần Mộng Tú khi bà nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên ở một nơi không phải là Việt Nam.

Phải nói ngay rằng, tiếng hát của Thái Thanh, không phải là tiếng hát của u buồn, không sầu bi nức nở. Đó là tiếng hát của sự hoan lạc. Trong tiếng hát ấy chứa đựng cái réo rắt của tiếng suối, pha lẫn sự lan tỏa của ánh sáng, và toát lên cái hạnh phúc của một tình yêu, tình yêu quê hương, tình Mẹ.

“Rất nhiều lần tôi đã tự hỏi tại sao Thái Thanh lại có một giọng hát như thế? Cái gì trong giọng hát Thái Thanh đã tác động vào làm cho mình cảm động, rung động như thế khi hát về quê hương đất nước, Tình hoài hương, Tình ca, Bà mẹ Gio Linh chẳng hạn.”

Tiếng hát ấy, theo lời nhà văn Phạm Xuân Đài, là cả một thế giới đặc biệt, làm cho người ta rung động một cách kỳ diệu. Và từ sự rung động ấy, mà mỗi một người, trong một hoàn cảnh và thân phận của chính họ, sẽ nhận thấy những cung bậc tình cảm khác nhau dành riêng cho mình.

Tiếng hát ấy, hơn nửa thế kỷ, kể từ khi bà bắt đầu đi hát 1951 đã trở thành tiếng hát tiêu biểu của nền tân nhạc Việt Nam với dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình.

Image

Bìa CD Hội Trùng Dương của ca sĩ Thái Thanh. Courtesy of baomoi.com

“Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Ôm nghiêng tập vở
Tóc dài tà áo vờn bay…” (Ngày xưa Hoàng Thị)

Nhắm mắt lại và nghe tiếng hát Thái Thanh, người ta sẽ không chỉ nghĩ đến tình yêu lứa đôi thôi, mà người ta sẽ cảm nhận được tình yêu to lớn hơn, thiêng liêng hơn, vĩ đại hơn, đó là tình yêu đất nước. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, phu quân của cố ca sĩ Quỳnh Giao, một người bạn tri âm của bà cảm nhận rằng:

“Khi nghe tiếng hát của Thái Thanh, thì chúng ta có thể nghĩ đến lời ru của Mẹ. Khi mình không còn ở tuổi yêu đương nữa mà mình nghe mình vẫn còn thấy nức nở thì đó không phải chỉ vì tình yêu không thôi, mà nó còn có tình yêu con người và tình yêu của người Mẹ.” (Nguyễn Xuân Nghĩa)

“Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con đánh giặc đêm ngày
Cho dù áo rách sờn vai
Cơm ăn bát vơi bát đầy
Hò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!...” (Bà mẹ Gio Linh)

“Thái Thanh với tâm hồn của người Việt Nam trong một giai đoạn nhiễu nhương nhất của thế kỷ 20. Từ một thiếu nữ hát những bản tình ca gây xúc động sang giai đoạn đi hát cũng là giai đoạn có cuộc chiến lầm than nhất của đất nước. Những ca khúc Thái Thanh hát về chiến tranh cho thấy điều quan trọng hơn là quê hương và người Mẹ trong chiến tranh.” (Nguyễn Xuân Nghĩa)

Hạnh phúc, lầm than của dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn nhiễu nhương của lịch sử được tái hiện trọn vẹn qua tiếng hát Thái Thanh. Bà hát với tất cả tâm hồn, trái tim của người Việt Nam. Những âm thanh của quá khứ, của dân tộc trong các bài dân ca, chầu văn, hát chèo đều được bà bộc tả bằng những cảm xúc tự nhiên nhất.

Nhà văn Phạm Xuân Đài cho rằng những yếu tố văn hoá dân tộc, âm thanh của dân tộc ấy có sẵn trong con người của Thái Thanh. Khi cần, những yếu tố ấy được bà diễn tả ra một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên làm cho người nghe dù chợt thoáng qua cũng rung động ngay.

‘Tiếng hát thông minh’

“Khi mà tôi nghe tiếng hát của Thái Thanh, từ hồi còn trẻ, rồi qua thời gian lớn lên, rồi lúc mình chín chắn hơn…kết luận riêng của tôi, tiếng hát của Thái Thanh là một tiếng hát thông minh. Thái Thanh là một người rất thông minh. Vì khi mình nghe bà diễn tả thì hầu như bài hát nào cũng rung động đến tận tâm can. Hình như mọi ý tình của nhạc sĩ sáng tác thì bà Thái Thanh đã chuyển trọn vẹn đến người nghe qua giọng hát của bà. Phải là người thông minh lắm, hiểu hết sắc thái của người nhạc sĩ, và hiểu âm nhạc, hiểu âm thanh thì mới có khả năng diễn đạt hết tất cả những tinh tế đó.” (Phạm Xuân Đài)

Chính nhà văn Phạm Xuân Đài đã nhiều lần tự hỏi tại sao Thái Thanh lại có một giọng hát như thế? Cái gì trong giọng hát của bà đã tác động vào làm cho người nghe cảm động, rung động nhu thế khi hát về quê hương đất nước, Tình hoài hương, tình ca, Bà mẹ Gio Linh…?

“Thứ nhất Thái Thanh là người nắm vững nhạc lý. Thái Thanh đàn piano rất hay. Thứ nhì, Thái Thanh có giọng hát thiên phú thì đã đành rồi nhưng có một biệt tài là phát âm rất rõ những lời ca. Nhờ vậy mà cho đến sau này, nếu người ta nghe lại người ta mới biết người Việt lúc đó đã yêu thương, than khóc hay khóc cười theo mệnh nước nổi trôi như thế nào.” (Nguyễn Xuân Nghĩa)

“Có được tiếng hát như vậy thì cũng phải có một đời sống bên trong rất phong phú thì mới có thể diễn tả được, ngoài chuyện có được tiếng hát thiên phú trời cho. Mà tồn tại được mãi như vậy thì phải có một kỷ luật trong đời sống.” (Nguyễn Xuân Nghĩa)

Một đời nghệ thuật


Thái Thanh đối diện với tác phẩm nghệ thuật như là người sắp diễn tả nó chứ không mang sẵn tâm trạng của mình. Bà không để cảm xúc riêng của mình, tình cảm riêng của mình trong một tình cảnh nào đó của đời mình vào trong bài hát. Bà chỉ sống trọn vẹn với bài hát ấy mà thôi.

Thái Thanh khi hát chỉ đối diện vời bản nhạc đó thôi, không để cảm xúc riêng của mình trong đó. Đối với Thái Thanh, nghệ thuật là trên hết khi diễn đạt. Khi nhìn vào một bản nhạc thì biết ngay tác giả muốn nói cái gì, mình đối diện với cái gì, mình sẽ diễn đạt cái gì chứ không phải mình nói tâm trạng của mình. Thái Thanh rất khách quan trong việc trình bày một nhạc phẩm.” (Phạm Xuân Đài)

“Khi hát Dòng sông xanh, Mối tình xa xưa, hay Serande thì Thái Thanh hát trong tâm cảm của một người ở phương trời Tây, của nhạc Tây phương.”


Hơn nửa thế kỷ tiếng hát trôi qua, tiếng hát của bà đã đi cùng lịch sử văn hoá, âm nhạc Việt Nam với những cung bậc thâm trầm khác nhau. Không biết là giờ đây bà có còn khóc cười theo vận nước nổi trôi nữa hay không, nhưng chắc chắn rằng, tiếng hát của bà sẽ mãi mãi vượt thời gian, không gian để trở thành một di sản của nền âm nhạc Việt.

“Một yêu câu hát Truyện Kiều
Lẳng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta
Và yêu cô gái bên nhà
Miệng xinh ăn nói thật thà (à à) có duyên

Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
Nhìn trùng dương hát câu no lành…”

For this message the author hat@ has received thanks: 4
BinhMinh(Fri Aug 12, 2016 3:50 am), Duyên Chi(Thu Aug 11, 2016 10:46 pm), lachong(Fri Aug 12, 2016 1:40 am), Ngô Đồng(Thu Aug 11, 2016 9:21 pm)
Rating:25%
 
hat@
 
Posts: 16611
Joined: Thu Aug 26, 2010 3:35 am
Has thanked: 28696 times
Have thanks: 52472 times

Next

Return to Tản Mạn Cuộc Sống

Who is online

Users browsing this forum: Bing [Bot] and 1 guest