Một câu chuyện Đạo

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Thu Feb 04, 2016 7:51 pm

Mừng Xuân Di Lạc

Nguyện bạn luôn luôn được hạnh phúc, an lạc và là nguồn hạnh phúc an lạc cho tất cả mọi người.

Chúc mừng năm mới


Image


Nguyện bạn sẽ là người bảo vệ cho những ai không có sự bảo hộ.

Là người hướng dẫn cho những ai đang đi trên đường.

Với những ai muốn băng qua dòng sông,

Nguyện bạn là một con thuyền, một chiếc bè, một cây cầu.

Nguyện bạn là một hòn đảo cho những người mong mỏi bến đậu,

Một ngọn đèn cho những ai mong ngóng ánh sáng,

Là một cái giường cho những ai cần đặt lưng ngơi nghỉ.

Nguyện bạn là một tôi tớ cho những ai cần sai bảo.

Nguyện bạn là một viên ngọc như ý, một bảo bình đáp ứng những mong muốn,

Một lời thần chú, và một cây thuốc.

Nguyện bạn là một cây Như ý ban điều ước muốn,

Là con bò mong ước cho tất cả chúng sanh.

Cũng như đất và những nguyên tố khác,

Tồn tại như hư không tồn tại

Cho vô số chúng sanh đang sống

Nguyện bạn là nền tảng và phương tiện cho đời sống của họ.

Như thế, đối với bất cứ vật gì đang sống

Trong khắp không gian mười phương

Nguyện bạn là sự nuôi sống và chất bổ dưỡng của họ

Cho đến khi tất cả họ vượt qua khỏi những biên giới của khổ đau.

(Đi vào Bồ tát hạnh của Shantideva, )


For this message the author DIEU DUC has received thanks:
BinhMinh(Thu Feb 04, 2016 10:55 pm)
Rating:6.25%
 
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Tue Mar 01, 2016 1:09 am

Ai thoát điềm Lành , Dữ


Câu chuyện này, khi ở Trúc Lâm, bậc đạo sư đã kể lại về một người Bà-la-môn giỏi đoán những điềm báo cho là được thể hiện trên y phục. Truyền thuyết nói rằng thời ấy ở thành Vương Xá, một người Bà-la-môn giàu có nhưng hết sức mê tín.

Một hôm, sau khi tắm xong, người Bà-la-môn bảo đem y phục lại và được báo cho biết là áo của ông đã bị một con chuột cái cắn. Người ấy suy nghĩ, “quần áo bị chuột cắn là trong nhà sắp có đại nạn. Đấy là một điềm xấu, như lời nguyền rủa.”

Chuyện tương tự như vậy đã xảy ra trong rất nhiều đời. Bà già chuẩn bị đi bán hàng, ra đến đầu ngỏ gặp… gái (chứ không phải gặp anh hùng). Bà quay trở lại nhà vì nghĩ rằng… xui xẻo, nếu đi buôn bán không được. Một cô mới sáng sớm mở cửa hàng, có người đến xem hàng xem họ… rồi chẳng chịu mua. Thế là cô mắng tét tát người đó vì sợ xui cả ngày. Nếu lỡ gặp người nào… nặng vía (?) thì dù có mở hàng cô cũng nhất định không bán. Nhiều người khi đi chợ, không dám mua mở hàng vì sợ cô hàng xinh đẹp… ế hàng cả ngày sẽ rủa mình một trận. Hoàn toàn tương tự, hàng năm, giới buôn bán đều nhờ thầy xem cho ngày khai trương. Thầy bảo mùng ba tốt thì các cửa hàng đều đồng loạt khai trương, có lẽ vì nhiều thầy nhưng… cùng một sách. Nếu thầy phán mùng bốn sát chủ thì không ai dám mở cửa hàng. Vài năm gần đây, nhiều cửa hàng mở cửa buôn bán qua tết, không nghỉ. Thế là việc khai trương không còn nữa, vì có đóng cửa ăn Tết đâu mà khai trương.

Khi áo bị chuột cắn thì không thể cho con trai, con gái, nô tỳ hay người làm công… Ai lấy y phục này, đại nạn sẽ đến với người xung quanh. Ta hãy quăng nó vào nghĩa địa, chổ quăng xác chết. Nhưng không thể giao cho những nô tỳ đi làm việc này. Chúng có thể khởi lòng tham, lấy bộ y phục ấy và gặp nạn. Người Bà-la-môn cho gọi con trai và nói rõ sự việc ấy: “ Này con thân, chớ lấy tay chạm vào cái áo này. Hãy lấy gậy mang nó quăng xa vào nghĩa địa rồi tắm cả đâu cho sạch”.

Ông Bà-la-môn này tốt bụng. Ông sợ cái áo xui xẻo kia sẽ gây đại nạn cho người khác. Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, thị trường là chiến trường, doanh nghiệp A có thể tìm cách hạ thấp uy tính doanh nghiệp B. Chuyện xui xẻo cho A thành chuyện may của B, như chuyện chen lấn nhau để lấy cho được ấn , áo mỗi dịp lễ hội cúng tế hằng năm. Những gì đem lại may mắn thì phải tìm cách giành giựt nhau. Ông Bà-la-môn trong truyện không có tâm lý đó.

Sáng sớm ngày hôm đó, bậc Đạo sư nhìn xem có ai mà ngài có thể hóa độ. Ngài thấy người cha và người con ấy có căn duyên với quả Dự lựu. Như người thợ săn thú, người đi theo con đường thú đi và ngồi trước của nghĩa địa ấy, phóng ra hào quang sâu sắc của Đức Phật.

Đức Phật thấy được sự tốt bụng của cha con ông Bà-la-môn. Ngài biết rằng chỉ cần giúp họ tin vào nhân quả, tin rằng mọi đều có nguyên nhân từ chính mình, rằng làm điều tốt sẽ được điều tốt, làm điều xấu sẽ gặp điều xấu, thì họ không còn mê tính lành dữ nữa.

Image


Thanh niên trẻ Bà-la-môn vâng lời theo cha, mang bộ y phục trên đầu cây gậy, như mang con rắn độc và đi đến cửa nghĩa địa. Bậc Đạo sư hỏi:

- Này thanh niên, làm gì vậy?

- Thưa Tôn Giả Gotama, bộ y phục này bị con chuột cái cắn, được xem là lời nguyền rủa, được ví như nọc độc con rắn. Cha tôi sợ rằng nếu giao cho người khác quăng bộ y phục này, họ có thể khởi lòng tham và lấy dùng, nên mới sai tôi. Tôi cầm lấy bộ y phục, hứa rằng tôi sẽ quăng và sẽ tắm cả đầu. Tôi đến đây là vậy, thưa Tôn Giả Gotama!

– Vậy ngươi hãy quăng đi !

Thanh niên Bà-la-môn quăng bộ y phục ấy. Bậc đạo sư nói :

- Y phục này thích hợp với chúng tôi .

- Tôn giả Gotama , chớ có lấy bộ y phục bị nguyền rủa này.

Đức Phật vẫn lấy bộ y phục và đi về hướng Trúc Lâm .

Nhận luôn vật mang điềm xấu , Đức Phật đã làm cho anh thanh niên ối rối , vì nó ngược với suy nghĩ thông thường . Điều xui xẻo chỉ xảy ra cho hành động xấu trong quá khứ của mình . Điều may mắn chỉ xảy ra cho hành động tốt trong quá khứ của mình , do đó, nếu bị xui xẻo , không phải chỉ do ra ngõ gặp gái , không phải chỉ do khách hàng …nặng vía , không phải chỉ do khai trương không đúng ngày . Nếu được may mắn thì chắc chắn không phải do ấn đền Trần . Nếu nhận thức được điều ấy , người ta sẽ không phải chen lấn lấy bằng được Ấn đền Trần . Nếu nhận thức được điều này , cô chủ cửa hàng sẽ không mắng khách hàng nữa mà còn …cảm ơn . Cảm ơn vì biết phước đức của mình mỏng như cánh hoa tường vi , lẽ đương nhiên là chẳng có ma nào ghé vào cửa hàng của mình . Nay có một người ghé , dù chẳng mua , cũng là đã tốt hơn nhiều . Lẽ ra phải là cám ơn thay vì chửi mắng .

Thanh niên đi rất mau về thưa với cha :

- Thưa cha, bộ y phục con quăng ở nghĩa địa; nhưng dù con ngăn cản , Sa-môn Gotama vẫn lấy vì cho là thích hợp và đã đi đến Trúc Lâm !

Người Bà-la-môn suy nghĩ :

Bộ y phục này là điềm xấu , giống như bị nguyền rủa . Dùng nó Sa-môn Gotama sẽ bị tai hại . Do vậy , chúng ta sẽ bị chỉ trích . ta sẽ đem cho Sa-môn Gotama nhiều y phục khác và khiến Sa-môn Gotama quăng bộ y phục đó đi !

Người Bà-la-môn này quả thật có quan tâm đến người khác , ngoài ra ông còn sợ bị mang tiếng nếu Đức Phật bị tai nạn vì sử dụng cái áo bị chuột cắn . Do đó , ông định đem đến cho Đức Phật nhiều áo khác để thay thế .

Người Bà-la-môn cùng với con trai đi đến Trúc Lâm , thấy bậc Đạo sư , đứng một bên và thưa :

- Thưa Tôn Giả Gotama , có thật chăng , Tôn giả có lấy một bộ y phục bị vứt ở nghĩa địa ?

- Thật vậy , này người Bà-la-môn !

- Thưa Tôn giả Gotama , y phục ấy sẽ mang lại điềm xấu . Nếu Tôn giả sử dụng nó sẽ bị tai hại và cả tịnh xá cũng sẽ bị tai hại , nếu Tôn giả không có áo mặc hay áo đắp , hãy lấy những cái áo này và vứt y phục kia đi .

- Này người Bà-la-môn , chúng tôi là người xuất gia . Đối với chúng tôi , các mảnh vải vứt ở nghĩa địa , giữa đường , đống rác , chỗ tắm rửa vẫn còn có thể dùng được . Ông vẫn mê tín điềm lành dữ như thuở xưa .

Đức Phật kể lại câu chuyện trong một đời trước , câu chuyện đa từng xảy ra tương tự . Sau khi kể chuyện xưa , Bậc đạo sư đọc bài kệ :

Ai thoát điềm lành dữ

Thoát mộng và các tướng

Vị ấy vượt qua được

Lỗi lầm điềm lành dữ

Hai ách được nhiếp phục

Không còn phải tái sanh

Câu chuyện thuật tiếp rằng , dựa vào bài kệ nói trên , bậc Đạo sư thuyết pháp cho vị Bà-la-môn . Ngài cũng giảng cho hai cha con người Bà-la-môn về Bốn sự thật . Cuối bài thuyết giảng , vị Bà-la-môn cùng với người con trai đều chứng quả Dự lưu .

- Văn hóa Phật Giáo -
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Fri Mar 11, 2016 1:26 am

Phật dạy: Bảy cách BỐ THÍ ai cũng có thể làm được


Một người nghèo chạy đến phía trước Đức Phật vừa khóc vừa hỏi Ngài:
“Tại sao con làm việc gì cũng không thành công, đó là do duyên cớ gì ạ?”
Đức Phật nói với anh ta: “Đó là bởi vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.”
Người kia thưa: “Nhưng con là một người nghèo khó không có tiền, làm sao có thể bố thí!”
Đức Phật dạy:“Đều không phải như thế. Một người cho dù không có tiền, vẫn có thể cho người khác 7 thứ:

Image


1. Nhan thí –
Cho đi bằng nét mặt. Chúng ta có thể cho đi nụ cười niềm nở đến những người xung quanh hàng ngày mà mình gặp trong cuộc sống.

2. Ngôn thí –
Cho đi bằng lời nói. Chúng ta có thể nói nhiều những lời nói ấm áp, khiêm nhường, khen ngợi, an ủi, khích lệ, cổ vũ và động viên người khác.

3. Tâm thí –
Cho đi bằng tấm lòng. “Sưởng khai tâm phi, thành khẩn đãi nhân”, có nghĩa rằng mở rộng tấm lòng, chân thật, thành tâm đối đãi với người khác.

4. Nhãn thí –
Cho đi những ánh mắt, những cái nhìn hiền từ. Dùng ánh mắt thiện ý để nhìn người khác.

5. Thân thí –
Cho đi bằng hành động nhân ái. Dùng hành động nhân ái để đi giúp đỡ người khác.

6. Tọa thí – Cho đi bằng nhường chỗ ngồi cho người cần. Khi đi xe hay trên thuyền có thể nhường chỗ ngồi của mình cho người cần.

7. Phòng thí –
Bố thí nơi ở: Đem phòng còn trống cho người khác nghỉ ngơi.


Cuối cùng Đức Phật nói: “Cho dù là ai, chỉ cần tập thành 7 thói quen này thì vận may sẽ đi theo “như hình với bóng”! Đức Phật nói với chúng ta hạnh của bố thí có rất nhiều cách, chỉ cần dùng chân tình và thiện tâm là có thể làm được. (ST )
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Wed Apr 20, 2016 12:08 am

Sức mạnh của trẻ con

Image

Trong cuộc đời này, hận thù và tàn phá bao giờ cũng dễ làm hơn là tha thứ và xây dựng. Có lần, Phật bị một kẻ cướp tên là Angulimala cầm gươm đuổi theo định hại ngài. Angulimala rất tự hào và cho rằng mình là một kẻ có rất nhiều quyền năng, vì đã có biết bao nhiêu người đã chết dưới lưỡi gươm của anh. Đức Phật nói với Angulimala, “Trước khi anh giết ta, ta có vài điều muốn yêu cầu, anh hãy chặt đứt cành cây này cho ta đi.” Angulimala đưa nhát gươm mình lên, và cành cây kia bị cắt đứt lìa. Anh hỏi Phật, “Bây giờ ông muốn gì nữa?” Phật nói tiếp, “Bây giờ anh hãy gắn liền cành cây này lại trên cành như trước đi.” Angulimala cười to và nói rằng, “Ông có điên rồ không mà nghĩ rằng bất cứ ai lại có thể làm được chuyện đó!” Phật nói “Ngược lại, chính anh mới là kẻ điên rồ, khi nghĩ rằng mình có sức mạnh là vì mình có thể đi sát hại và tàn phá. Đó là công việc của trẻ con. Người có dũng lực, có sức mạnh là những ai có thể đi xây dựng và chữa lành những vết thương trên cuộc đời này.”


Lưỡi gươm ấy cũng có thể là một lời nói của ta, và trong thời đại của kỷ nguyên tin học ngày nay thì chúng ta có biết bao nhiêu phương tiện khác để gây dựng, chữa lành hoặc tàn phá… (Thích Nhật Từ)


Khẩu hòa vô tránh.


Image

Lắng nghe Phật dạy trong kinh A-hàm:
Người biết tôn trọng chân lý là khi nói điều gì, chỉ nói “đây là cái nghĩ của tôi”. Ngang đó thôi, không thêm chữ “đúng”. Nếu nói tôi nghĩ đúng thì sanh chuyện ngay. Mỗi người có quyền có nhận định riêng. Hoa hồng đẹp vì nó là nó. Đừng so sánh cái này đẹp hơn cái kia. Vì sao? Vì khi ta quyết nhận định của mình là đúng, người khác nói ngược lại thì nổi sân lên. Mà nhận định của mình có đúng chân lý chưa? Dĩ nhiên là chưa.

Trên thế gian, mọi sự việc xảy ra đều tùy duyên. Hôm qua duyên khác hôm nay duyên khác. Vậy tất cả suy nghĩ của chúng ta có đúng không? Đúng một phần thôi, chứ chưa phải tuyệt đối. Nhưng khi suy nghĩ điều gì, ta thường cho đó là đúng tuyệt đối, ai làm khác thì nổi giận liền. Do nổi giận nên gây ác khẩu, nói bậy, nói những lời vô nghĩa, khiến cho người khác đau buồn. Đó là phạm lỗi khẩu hòa vô tránh. (Thích Thanh Từ)
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Wed May 04, 2016 12:13 am

Chuyện "tiền kiếp" cha Việt con Mỹ thời hiện đại


(PetroTimes) - Chuyện mới xảy ra vào giữa thế kỷ 20 đây thôi, và mãi cho đến ngày nay, cũng còn cả chứng nhân cũng như chứng tích, đủ để đóng một dấu chứng nhận về tính xác thực của nó, dành cho thế hệ bây giờ.

Image

Chân dung Tổ Phước Huệ và đệ tử Frank M.Balk (Chơn Trí)


Chuyện xảy ra ở Việt Nam, nhưng lại bắt đầu từ bên Mỹ. Số là, vào khoảng thời gian năm 1956, có một kỹ sư Hoa Kỳ tên là Frank M.Balk. Chàng kỹ sư này suốt đời chẳng biết gì về cái xứ bé nhỏ xa xôi tận vùng Đông Nam Á tên gọi là Việt Nam cả.
Ấy thế mà… bỗng dưng một đêm nọ, chàng nằm mơ thấy một người đàn bà mặc áo trắng hiện đến bên giường và cất tiếng bảo rằng: “Người hãy mau đến một đất nước có tên là Việt Nam để tìm gặp lại vị cha tiền kiếp của mình. Hiện ông là một nhà sư đang sống trong một ngôi chùa tọa lạc trên một ngọn đồi gần thành phố. Ngươi khá đi ngay!”.
Chàng kỹ sư Frank M.Balk giật mình tỉnh giấc, tự lấy làm ngạc nhiên về giấc mơ kỳ lạ của mình. Chẳng những trong đầu óc chàng ta chưa từng có một ý niệm gì về cái xứ sở tên gọi là Việt Nam mà ngay đến hình ảnh một nhà sư, một ngôi chùa, cũng vậy. Thoạt đầu, Frank M.Balk nghĩ đây là chuyện mộng mị linh tinh.
Nào ngờ cái “kịch bản” trong cơn mơ nọ cứ lập đi lập lại, khiến chàng trai Mỹ, cuối cùng, phải đành tin là thật. Cơ duyên khế hợp: vào thời điểm này, tại Mỹ, người ta có tổ chức nhiều đoàn chí nguyện đến công tác ở Việt Nam. Sẵn cơ hội tốt, Frank M.Balk liền quyết định đăng ký.
Thế là, chẳng bao lâu, chàng kỹ sư người Mỹ đã được điều tới Việt Nam để… làm một công đôi việc: “một công”, dĩ nhiên đó là công tác xây dựng; còn “đôi việc”, đó là lợi dụng cái tính năng động rày đây mai đó của công tác kỹ sư của mình để “đi rỏn” khắp các ngôi chùa có đặc điểm “tọa lạc trên một ngọn đồi gần thành phố”.
Trong một thời gian ngắn, Frank M.Balk đã “công du” qua nhiều tỉnh: từ Cần Thơ, An Giang, Châu Đốc, Tây Ninh… cho đến Vũng Tàu, Sài Gòn… Và đến bất cứ nơi đâu, sau khi năng nổ hoàn thành công tác, chàng kỹ sư Mỹ cũng tranh thủ để tham quan từng “ngôi chùa đồi”, hy vọng sẽ, cuối cùng, tìm được “người trong mộng”.
Tiếc thay, qua ngần ấy dốc, ấy đồi, bóng chim tăm cá của người cha tiền kiếp vẫn biệt tăm. Cho đến một hôm… Lần này, Frank M.Balk được điều ra tận xứ Nha Trang thuộc miền Trung. Và cũng như với các tỉnh lân cận vừa kể ở trên, tại đây, cũng sau khi năng nổ hoàn thành công tác, Frank M.Balk đã sắp xếp dành cho mình 3 ngày để “đi viếng các ngôi chùa” cũng như “thăm các vị sư”.
Sau 2 ngày lặn lội mà chẳng nên công cán gì; đến ngày cuối, chợt trong tâm linh viên kỹ sư nghe như có một tiếng gì réo gọi. Anh chàng cứ việc thả bộ, đi, đi mãi theo tiếng gọi kỳ bí ấy… Cho đến lúc dừng chân, thì đã thấy mình đứng trước một ngọn đồi rất tráng lệ; và, trước mắt, một cổng tam quan có 3 chữ Nho rất đẹp mà chàng không đọc được, chẳng hiểu là chữ gì.
Tuy nhiên, viên kỹ sư biết chắc đây là một ngôi chùa, và hàng chữ nọ ắt là danh hiệu của ngôi chùa. Chàng bè cất bước đi lên đồi hỏi thăm.
Cũng may tại ngôi chùa này vào thời gian ấy đang có sự hiện diện của nhiều tăng sĩ có trình độ học vấn khá, nói thạo tiếng Anh.
Điều lạ lùng là: ngay khi vừa giáp mặt chàng trai người Mỹ này, các vị tăng sĩ tiếp xúc với chàng đã tỏ vẻ ngạc nhiên. Lúc đó, chàng chưa hiểu là có chuyện gì. Về sau, ngẫm nghĩ lại, chàng mới đoán ra lý do của thái độ ngạc nhiên này.
Gặp được người thành thạo tiếng Anh, viên kỹ sư bèn hỏi thăm tên ngôi chùa, và được biết đây là chùa Hải Đức, một danh lam và là một trung tâm văn hóa Phật giáo của thành phố Nha Trang. Đồng thời, cũng được biết vị sư cả trụ trì ngôi chùa là hòa thượng Thích Phước Huệ. Hòa thương, thời gian ấy, tuổi tác đã bảy mươi, và đang ngồi tụng kinh trước bàn thờ Phật.
Trong lúc vị hòa thượng già người Việt nhất tâm “thành tâm Bát Nhã” trước bàn thờ Phật, thì, đứng bên cửa niệm Phật đường, chàng kỹ sư người Mỹ cũng nhất tâm lặng lẽ quan sát hòa thượng già đang hành lễ trong một phong thái cực kỳ trang nghiêm.
Và, lạ lùng thay, chàng cảm nghe như người trước mặt chính là con người thân thương yêu quý nhất đời mà từ lâu chàng khát khao tìm kiếm. Con người ấy, dáng dấp ấy, gương mặt ấy… Thật nói chẳng hết lời!
Nhưng sự lạ lùng này không chỉ xảy đến trong nội tâm chàng trai Mỹ; các tăng sĩ chung quanh chứng kiến hiện tượng, cũng cảm thấy rất đỗi lạ lùng! Là vì: hai người kia, một tăng một tục, một già một trẻ, một Việt Nam một Hoa Kỳ, sao mà họ giống nhau đến thế!
Mãn thời tụng kinh, sư Phước Huệ đứng dậy. Chú tiểu vội ra dấu cho viên kỹ sư trở xuống hậu liêu chờ. Được các thầy trong chùa thông báo, sư Phước Huệ vội xuống gặp viên kỹ sư. Một cuộc hội ngộ lạ lùng đã diễn ra: viên kỹ sư, qua sự thông dịch của một thầy thạo tiếng Anh, đã trình bày cho sư Phước Huệ biết về giấc mộng kỳ diệu (bây giờ không còn là kỳ lạ nữa, mà đã trở thành kỳ diệu – hiển nhiên là thế) cũng như cuộc hành trình tìm người cha tiền kiếp của mình.
Trong khi nghe câu chuyện của người đối thoại, với gương mặt của người đối thoại như tác khuôn gương mặt của chính mình, hiển nhiên sư Phước Huệ chẳng hề nghe trong tâm gợn lên một thoáng hồ nghi nào: bởi chưng, tất cả, tất cả… đều đồng thanh hòa điệu nói lên rằng đây là sự thực.
Và kết thúc của cuộc gặp mặt này đã diễn ra đúng như điều mong đợi: sư Phước Huệ và chàng kỹ sư Frank M.Balk đã nhận nhau làm cha con; lại, còn hơn thế nữa: thầy trò.
Tổ sư Phước Huệ được kỹ sư ở Mỹ nhận làm cha của “tiền kiếp”. Hai thân phận người ở nửa vòng trái đất phải chăng mắc nợ nhau và gặp nhau để trả nợ ở kiếp “lai sinh”?


Việc kỳ diệu này đã diễn ra vào ngày chủ nhật 27 tháng 4 năm 1958, lúc 4h30 chiều. Để rồi, hai tuần sau, một buổi lễ quy y cho viên kỹ sư Hoa Kỳ Frank M.Balk đã được tổ chức tại chùa Hải Đức. Sư Phước Huệ ban cho đệ tử mình pháp danh là Chơn Trí. Đồng thời, cũng ban cho đệ tử một chiếc áo tràng màu lam và chiếc quần dài màu nâu sòng.
Sau đó, “hai cha con” đã chụp chung một tấm ảnh kỉ niệm ngày hội ngộ. Tấm ảnh này đã được phóng lớn và treo ở hai ngôi chùa cùng tên là Hải Đức, một ở Nha Trang và một ở Huế. Ngày nay, du khách đến Nha Trang hay Huế, nếu ghé thăm hai ngôi chùa Hải Đức nói trên ắt sẽ thấy tấm ảnh treo ở nhà khách của chùa.
Nhìn tấm ảnh, ai cũng ngạc nhiên thấy sự trùng hợp lạ lùng về hai con người xa lạ. Người góc biển, kẻ chân trời nhưng lại có hai gương mặt, từ mắt, mũi, miệng, tai… cho đến cả khuôn mặt đều giống nhau như tạc.
Lại dưới tấm ảnh còn đề hai hàng chữ một bằng tiếng Pháp, một bằng tiếng Việt, như sau: Le fils perdu et retrouvé. Dimanche, le 27 Avril 1958, 4h30. Và: Đứa con mất đã tìm lại được. Chủ nhật 27-4-1958 – 4h30 chiều.

Trong khoảng thời gian đó, khi còn công tác tại Việt Nam, viên kỹ sư này đã vẽ kiểu và xây dựng một ngôi bảo tháp bên cạnh chùa Hải Đức nói trên. Câu chuyện “người cha tiền kiếp” này loan truyền khắp miền Nam, khiến chính quyền Ngô Đình Diệm – hết sức lo lắng.
Chính quyền họ Ngô đã tìm mọi cách tác động để chính quyền Hoa Kỳ phải triệu hồi kỹ sư Frank M.Balk về nước gấp. Cuộc chia ly thật vô cùng cảm động. Hai cha con nắm chặt tay nhau, rưng rưng nước mặt. Tình đời ý đạo, nói khôn cùng.
Từ đó, Frank M.Balk vẫn thường xuyên liên lạc với sư Phước Huệ.
Vào ngày rằm tháng tư năm 1963, sư Phước Huệ viên tịch. Nhà chùa có đánh điện qua báo tin cho viên kỹ sư, nhưng vào thời gian này, miền Nam đang nổ ra cuộc đấu tranh bất bạo động của Phật giáo nên việc trở lại Việt Nam để dự đám tang người cha tiền kiếp của viên kỹ sư Mỹ là bất khả. Nhưng dù sao…
cuộc hội ngộ tương phùng của hai cha con, một Việt một Mỹ, một tăng một tục này dù muốn dù không cũng đã khắc một dấu ấn tuyệt vời lên cõi tâm linh Việt. Những người Việt ta, ai đã có nhân duyên chứng kiến chuyện này hoặc nghe biết chuyện này, thảy đều cảm nhận được một niềm hoan hỉ mang tính thiền duyệt, do thỏa mãn được niềm tin về chánh pháp, về đạo lý luân hồi.

Câu chuyện “người cha tiền kiếp” trên đây quả là đầy đủ ý vị: vừa đạo vị, vừa thi vị. Câu chuyện lại đầy đủ nhân chứng, vật chứng đáng cho người tin cậy. Nay nếu chuyện từ “sự” qua “lý” mà nói, thì ta cũng có thể thấy rằng nội dung câu chuyện còn rất phù hợp với cái gọi là “lý chứng”.
Viết đến đây, tôi lại chợt nhớ đến hai câu đối chữ Nho như sau:
Mai hương bất cập thi hương viễn,
Thế vị vô như đạo vị trường.
Có nghĩa là:
Mùi hương của hoa mai không thoảng xa bằng mùi hương của thơ, ý vị của đời không thấm thía bằng ý vị của đạo.
Qua câu chuyện “người cha tiền kiếp” trên, chúng ta, vô hình trung, có thể bắt gặp cái ý thâm túy của hai câu thơ vừa dẫn. Về câu “mai hương bất cập thi hương viễn” thì không cần nói tới ở đây, bởi chưng cái vai tuồng của câu này chỉ để “dẫn đường” thôi: câu hai mới là câu “trọng tài”. Rằng: vị đời khôn sánh bằng vị đạo…
Với trường hợp của câu chuyện “Người cha tiền kiếp”, thì vị đạo nó nằm ở trong mối tình cha con của sư Thích Phước Huệ và chàng Frank M.Balk vậy. Bởi chưng cái mối tình cha con của họ, những người sống lặng về tâm linh, hiển nhiên phải có một cái gì đó sâu đậm hơn các mối tình cha con thông thường khác. Ấy là vì: đạo vị vốn “trường” hơn, sâu lắng đậm đà hơn thế vị - vị đời.
Chính cái tính cách sâu đậm đà này mà chàng Frank M.Balk mới để hồn phách mình mở ngõ mà lắng nghe được những tiếng gọi siêu thanh của sư Phước Huệ, “người cha tiền kiếp”, nay đang hiện hữu trên đời, cách nửa vòng trái đất; để rồi, theo quy luật “tương ứng tương cầu”, mọi sự đã xảy ra…
Điểm khác lạ là ở đó, mà điểm tương đồng cũng ở đó. Thì cũng vì chữ Ái làm động cơ tạo nên nghiệp lực để đẩy guồng máy luân hồi đó thôi. Có điều là thay vì là si ái, thì đây là từ ái, là hiếu ái, một niềm ái thật trong lành, nó giúp con người tinh tấn…

DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Sun May 22, 2016 1:44 pm

Kính mừng Phật Đản Bính Thân 2016

Image


Image

"Đêm Quan Âm - Ảnh: Đặng Đức Cương"

Image

" Bay về bồng lai "


Phật Đản Sanh


Bay về tiên cảnh bồng lai
Về miền trăng sáng liên đài chiếu soi
Trăng đầy, toả ánh chân như
Pháp âm vi diệu, tâm từ nở hoa

Độ nhân,
độ thảy muôn loài
Đài sen hương ngát,
rạng ngời vườn thiêng
Uyên nguyên ,
bảy bước chân thiền
Âm ba rền rã
Nụ hiền tâm nhiên.

Rằm tháng Tư - 2016
_ Đ Đ _

DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Mon Jun 13, 2016 1:11 am

Image


Bác DD Cương wrote:Hello Diệu Đức,
Bác gửi cháu xem và sau cháu cho Ba Má cháu xem ảnh Thày Không Chiếu, một vị Thiền Sư, trước đây năm 1975 là Đại Tá Trần văn Tự, Tỉnh Trưởng Ninh Thuận - Phan Rang. Thày nói chuyện với bác là tháng 4-1075 Thày bị Việt Cộng bắt ở Phan Rang, đi tù 12 năm. Ở trong tù Thày ngộ ra rang mình nên bỏ dấu huyền chữ Tù thành chữ Tu. Thế là Thày nghiên cứu kinh sách Phật giáo. Sau khi ra tù thày xuât gia tu hành và trở thành vị Thiền sư, đệ tử của Thiền Sư Thích Thông Triệt. Thật là đáng ca tụng. Bác cầu chúc cháu và ba má cháu thân tâm thường an lạc. BácCuong.


Image

Thầy Không Chiếu Trần Văn Tự


Đại Tá Trần Văn Tự sinh tháng 2/1927 tại Pháp.” Thân sinh của ông là Giáo Sư Trần Văn Thạch, sinh trưởng tại Phú Lâm, Chợ Lớn, Nam Phần. Ông du học tại Toulouse (Pháp) và đã viết báo “Le Journal des Etudiants Annamites” bày tỏ chí hướng và nguyện vọng thiết tha của người thanh niên Việt Nam mong muốn nước nhà được độc lập. Ông hoạt động trong nhóm Đệ Tứ của ông Tạ Thu Thâu. Về nước ông tích cực hoạt động chính trị và dùng cơ quan ngôn luận là tờ báo “La Lutte” làm lợi khí nêu rõ lập trường tranh đấu của ông. Năm 1937 ông được đắc cử vào Hội Đồng Thành Phố Sàigòn. Sau đó ông bị nhà cầm quyền Pháp ký giấy tống giam vì những bài báo ông đả kích chính sách cai trị của người Pháp tại Việt Nam. Năm 1945 ông bị thủ tiêu lúc 40 tuổi. Ông được đặt tên đường Trần Văn Thạch thay tên cũ là Vassoigne bên hông chợ Tân Định.”

Đại Tá Tự lúc còn Trung Tá ông là Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Được cử theo học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp tại Trường Đại Học Quân Sự Đà Lạt. Năm 1969 ông nhận chức Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng Ninh Thuận.

Sau khi Miền Nam bị bức tử, Đại Tá Tự đã trình diện Ủy Ban Quân Quản Sàigòn, bị tù tập trung “cải tạo” của Cộng Sản từ Nam ra Bắc 12 năm, 3 tháng, được về nhà năm 1987 nhân lễ 2/9 của Việt Cộng.

Đại Tá Tự sang Hoa Kỳ vào cuối tháng 2/1992 theo chương trình tị nạn qua danh sách HO.10. Nhân dịp tiếp xúc với Đại Tá, người viết mong biết được quyết định xuất gia vào chùa của Đại Tá thì ông cho biết: Có 3 lý do để ông xuất gia:

1. Không muốn làm con cờ trên bàn cờ quốc tế nữa.
2. Sám hối những tội lỗi vì không giữ được Miền Nam.
. 3. Trong khi vượt thoát khỏi mặt trận Phan Rang và trong thời gian tù đày hơn 12 năm, ông nhờ Phật pháp mà vượt qua nhiều khổ nạn và tỉnh ngộ rằng “mọi việc do tâm”.
Đại Tá Trần Văn Tự xuất gia cuối tháng 12/1999, thọ giới Sa Di (10 giới), pháp hiệu là Tỳ Kheo Thích Không Chiếu.

--------------------

Đại tá Trần Văn Tự về Phanrang năm 1969 nhưng lần đầu tiên tôi dược nhìn thấy ông là năm 1970 trong một buổi lễ trao giải thưởng cuối năm cho những học sinh xuất sắc tại rạp Thanh Bình. Năm đó anh Hai tôi vinh dự đuợc dại tá Tự trực tiếp trao giải thưởng " Danh dự toàn trường" cuối năm lớp 11, tấm hình kỷ niệm này vẫn còn được gia đình tôi cất giữ nhiều năm sau nàỵ
Tôi được biết đại tá Trần Văn Tự lập gia đình trễ nên cô con gái đầu lòng của ông học nhỏ hơn tôi hai lớp. Năm 1972 Trần Thị Thu Bình chuyễn trường từ Sàigòn về Trung học Duy Tan Phan Rang. Là một người khả ái và năng động, khuôn mặt mới Thu Bình sớm được bạn bè biết đến qua những sinh hoạt tích cực của trường như các công tác xã hội, văn nghệ hoặc giao tế. Cảm giác đầu tiên được làm bạn với Thu Bình là sự thân thiện của cô, là sự chân thành của một người có tâm và có tình, tế nhị va dể mến.
Năm sinh nhật thứ 17 của Thu Bình, tôi có dự buổi tiệc mừng sinh nhật của cô tổ chức tại tư gia. Đó cũng lần đầu tiên tôi đựoc đặt chân đến một nơi kín cổng cao tường - khoảng sân rộng với con đường tráng nhựa trãi dài hai bên là hàng cây cao thẳng đứng tỏa đầy bóng mát. Phía sau bức tường màu trắng với hai cánh cửa khép luôn có người canh gác kia, với tôi nơi này yên tĩnh quá, sự yên tĩnh hoàn tòan cách biệt so với tuổi trẻ tuôn tràn nhựa sống̣ của tuổi xuân hồng thiếu nữ. Vào khá sâu hơn là một tòa biệt thự cổ kính đã được xây cất từ thời Pháp. Sau này tôi cũng có trở lại đây vài lần để cùng Binh nhỏ to tâm sự trước khi cô rời quê hương năm 1973.
Thu Bình có ít bạn thân, và cũng ít có những bửa ăn sum họp gia đình, vì theo lời Bình thì thân phụ cô thường bận họp hành hay công tác bất thường, hoặc có lúc ông phát nguyện ăn chay dài hạn; cũng có khi ông chỉ ăn gạo lức muối mè mà thôi Với lối sống bình dị và đơn giản này, đâu ai biết được đó cũng là căn cơ tu hành đã được huân tập từ kiếp nào nơi ông.

Đại tá Trần Văn Tự đến Hoa kỳ khá trễ, và ông cũng thường giúp đỡ những người HO đồng đội khác đoàn tụ sau ông khi họ đến miền đất hứa này.
Nếu đi tìm một vị chân tu đạo hạnh, tôi tin Thầy Không Chiếu là một trong số những người thày xứng dáng trong vấn đề tâm linh soi đường cho chúng ta. Một người thấm nhuần đời và đạo một cách sâu xa - thầy đã thâm thúy đưa đạo Phật vào đời sống trong các bài thuyết giảng.

Sau đây là một số trong các bài thuyết giảng của Thầy Không Chiếu:

*****************************************************


" Người tu sĩ không chỉ nhắm đến giác ngộ giải thoát luân hồi sinh tử, mà còn có một hướng khác nữa là Phật pháp đi vào đời sống.

Thế nào là Phật pháp đi vào đời sống? Đó là Phật pháp đáp ứng được những khó khăn của con người. Con người sống ở đời, ngoài những giây phút vui vẻ hạnh phúc, những lúc ăn nên làm ra, khó có ai tránh khỏi tình trạng lo lắng buồn phiền khi công việc làm ăn thất bại, khi bị chủ cho nghỉ việc làm, hoặc khi con cái trong gia đình không nghe lời dạy dỗ của cha mẹ ăn chơi hư đốn, v.v... Những nỗi ưu phiền thất vọng đó, đưa đến trạng thái trầm cảm bệnh hoạn cho người trong cuộc.

Phật pháp giúp được gì cho họ, để họ sống thích ứng với mọi hoàn cảnh khi giàu có hạnh phúc cũng như khi mất trắng tay buồn khổ? Thầy Không Chiếu chia sẻ những điều trên nguyên văn như sau:

"Phật pháp là phải ăn chay, trì giới, niệm Phật, học thiền, ngồi thiền. Hồi nào tới giờ, ông bà mình làm như vậy. Đó là đúng. Nhưng mà Phật pháp còn có một hướng khác nữa đó là đi vào đời. Nếu quý vị tới đây nghe các vị lớn giảng mà thích thì có quyền cạo tóc, nhưng mà đâu phải ai cũng cạo tóc được. Bây giờ tôi hỏi ai cạo tóc, chắc không ai dám đưa tay! Phải về suy nghĩ kỹ chứ, đâu phải muốn cạo tóc thì cạo. Thành ra còn con đường nữa là Phật pháp đi vào đời. Tức là mình đi, đứng, nằm, ngồi... đều có Phật pháp trong đó, chứ không phải đợi ngồi thiền mới là Phật pháp. Thì hôm nay nói về chủ đề đó.

"Vấn đề thứ hai Phật pháp phải đáp ứng về những cái gì quý vị gặp khó khăn, chứ Phật pháp chỉ nói chuyện Tây Phương Cực Lạc thì chán lắm. Hiện tại mình đang gặp khó khăn, sầu khổ, đang bị bệnh tâm thể, bàn tính làm sao để thoát ra những điều bất như ý này... chứ ở đó mà nói chuyện Tây Phương Cực Lạc... Làm sao nói được cái chuyện... chưa tới đó!

"Phải nói chuyện hiện bây giờ, quý vị đang cần cái gì hay là quý vị đang kẹt cái gì? Thì chúng ta đang kẹt nhiều thứ lắm. Đời sống, công ăn việc làm, rồi gia đình, mà phần lớn ở đây có tuổi thì kẹt về bệnh. Có bệnh không? Có chứ! Nếu không bệnh thì Phật nói không đúng rồi. Lớn tuổi thì cơ thể bắt đầu rệu rã một chút, hơi yếu một chút. Trước tiên chưa bệnh là già. Già không phải nhiều tuổi mới già. Bắt đầu thấy mệt-mệt rồi... cái gì cũng không muốn tham dự, thấy hơi thối lui trước một vài công việc, không ưa không thích chỗ đông, không ưa không thích cái này cái kia của tuổi trẻ, họ ồn quá, không chịu nổi, mình già rồi! Hay là đi xa, ngồi trên xe, trên máy bay lâu mỏi cẳng, bắt đầu già rồi.... Cái tâm mình già, chứ cái thân mình chưa già. Rồi hễ già thì nó yếu. Yếu rồi tới bệnh. Nói tới đây, thôi không nói nữa. Nói quá, quý vị mệt!

"Bây giờ làm sao giải quyết cái căng thẳng, cái già, cái bệnh? Không lẽ mình để vậy? Hay là nói nghiệp của tôi, tôi chấp nhận. Người nào chấp nhận nghiệp, người đó là Bà-La-Môn giáo. Bà-La-Môn giáo là cái đạo đã có lâu lắm trước khi Đức Phật ra đời và thành đạo. Họ nói có nghiệp thì phải trả nghiệp. Chịu không?

"Hễ chịu là quý vị thua! Có nghiệp trả nghiệp thì thôi đi tu làm cái gì? Tôi nói một nắm, một bụm muối để vô cái tô, đổ nước vô quý vị quậy quý vị uống nổi không? Không, nó đắng quá, mặn mà tới mức đắng đó! Pha muối vào một cái chậu, uống không nổi vì cũng còn mặn. Cho nó vô cái thùng lớn, hay vô cái lu, cái gì lớn nữa, cả mấy chục lít nước, thì nó còn hơi măn mẳn, mà nếu cho xuống sông thì nó hết còn mặn."

Giải thích về nhân trổ quả tuỳ thuộc nơi duyên, Thầy so sánh như sau:

"Nghiệp là số lượng muối, còn nước là cái duyên mình tạo. Mình cứ pha loảng ra, pha loảng ra...thì nó hết mặn, nhờ vậy mình tu mới chuyển nghiệp được. Chứ nghiệp cứng ngắt thì đạo Phật hết chỗ đứng. Vì cứ chấp nhận nghiệp thì người ta đi tìm đạo Phật làm gì? Theo Bà-La-Môn giáo cho khoẻ. Đời này khổ cứ chấp nhận khổ đi, rồi đời sau sẽ khá. Cứ nghĩ như vậy thì khỏi có đạo Phật. Người nào nghĩ như vậy là có tư tưởng Bà-La-Môn, dù chưa quy y theo họ. Còn bây giờ mình phải có tư tưởng khác. Giữa nhân là cái tội lỗi mình tạo ra, quả là cái mình phải trả, ở giữa là cái duyên có thể chuyển đổi cái quả.

"Nói duyên, quý vị khó hiểu. Bây giờ tôi cho thí dụ: Một hột đậu là nhân cần có duyên là đất, nước, phân bón. Khi đủ duyên thì thành cây đậu là quả. Nếu hạt đậu không đủ duyên, như bỏ quên trong hủ thì là hạt giống hư không thể mọc thành cây đậu."

Sau phần dẫn nhập giải thích về Phật pháp, Thầy Không Chiếu đã nêu lên những thói quen tốt và xấu của con người thế gian. Những thói quen đó khi mới sanh ra thì không có, nhưng khi lớn lên thì huân tập từ gia đình, bạn bè hay ngoài xã hội. Huân tập tánh tốt thì kết quả có một cuộc sống tốt, ngược lại thì cuộc đời lâm vào cảnh bế tắt khổ đau. Trước khi sửa chữa thay thế thói quen cũ, bằng một thói quen mới, Thầy Không Chiếu nói rằng chúng ta phải nhận ra căn bệnh thời đại mà mọi người thường mắc phải như sau:

"Trở lại vấn đề. Vấn đề của chúng ta hiện nay là gì? Nếu tôi nói mình tập một thói quen xấu nó sẽ đưa tới cuộc đời mình tàn mạt. Mình tập thói quen tốt nó sẽ đưa tới cuộc đời mình tốt đẹp. Còn mình tập một thói quen nữa, nó sẽ đưa tới hạnh phúc, an lạc. Quý vị tin không? Còn suy nghĩ là chưa tin!

"Bây giờ tôi nói thói quen xấu. Hồi mới sanh ra biết uống rượu, cờ bạc, ma tuý không? Không! Lớn lên mình tập uống rượu, cờ bạc, ma tuý thì nó ra làm sao? Thì tiêu tùng!

"Bây giờ mình tập thói quen khác không uống rượu, chơi cờ bạc, chơi ma tuý, lo học hành, lo làm ăn, sống ở đời có phải mình khá hơn không?

"Nhưng mà, cả hai thói quen đó vẫn còn ở thế gian, nghĩa là anh đó, chị đó ra trường thi đậu có bằng cấp, thí dụ Bác sĩ, Kỹ sư gì đó, làm việc khá, nhưng cũng có lúc suy sụp, cũng có lúc thất bại, cũng có lúc bệnh tật hay gặp những rủi ro khiến phải sống trong đau buồn.

"Thành ra thói quen đó là thói quen của thế gian. Nó có tốt có xấu, nó có nên có hư.

"Bây giờ quý vị tập thói quen khác. Thói quen này không có tốt có xấu, nhưng nó giúp quý vị thăng tiến trong cuộc sống. Đó là thói quen về tâm linh. Trước tiên mình phải bắt mạch con bệnh mới được. Con bệnh của chúng ta hiện nay có 3 cái bệnh. Người nào thoát khỏi 3 cái bệnh đó thì chiều khỏi tới. Còn những người khác ở lại đây để tìm cách giải quyết cái bệnh của mình.

1) Việc nhiều, thì giờ ít, khiến cho mình căng thẳng.

2) Hưu trí, hết việc vẫn bị căng thẳng, vì đã huân tập căng thẳng trong thời gian còn làm việc.

3) Hết việc, không còn đi làm, không còn căng nữa. Rảnh rang đi chơi, du lịch, hoặc ở nhà nghiên cứu trồng cây Bonsai chơi, nhưng trong đầu vẫn không yên vì nó nói thầm hoài."

Sau khi nêu lên 3 căn bệnh thời đại khiến con người lúc nào cũng căng thẳng đưa tới những chứng bệnh tâm thể và trầm cảm trên, Thầy Không Chiếu còn nói:

"... Theo Tây Phương thì họ bắt cái đầu phải làm việc để không bị quên. Hoạt động nhiều quá thì căng. Vấn đề ở chỗ làm việc nhưng đừng quá căng, phải giải quyết vấn đề cho tinh thần được thư giản vì cuộc sống cần phải xông pha ra ngoài đời kiếm tiền nuôi gia đình, và bản thân mình, thì không thể trốn tránh. Nhưng lúc nào cái đầu cần làm việc thì phải làm việc, còn lúc nào mình muốn nó thư giản không làm việc, thì mình không suy nghĩ hay không nói thầm trong đầu, đó là mình làm chủ sự suy nghĩ."


THIỀN CHỈ (SAMATHA)

Chúng ta hiện sống trong xã hội văn minh tiến bộ kỹ thuật, khoa học, được hưởng nhiều về vật chất, nhưng tâm luôn luôn bất an, bị tác động bởi cảnh bên ngoài, nên nhiều người mắc một trong những căn bệnh thời đại như: Huyết áp cao, tiểu đường, parkinson, ảo giác, trầm cảm, ung thư, v.v... Thiền có thể giúp chúng ta phòng ngừa những căn bệnh kể trên, bằng cách thực tập thói quen mới, thay vì làm việc gì cũng căng thẳng thì chúng ta làm việc trong sự thư giãn.

Bước đầu là thiền Chỉ (Samatha) hay là tu Chỉ. Tu Chỉ ở đây là phương thức tu tập để tâm được yên lặng nên gọi là Samatha, là trạng thái thanh thản của tâm. Nói ngắn gọn tu Chỉ là giúp tâm "dừng lại" những suy nghĩ trong đầu. Cốt lõi của Chỉ/Samatha là cái Biết không lời, đơn giản, khách quan lặng lẽ. Samatha là phương pháp Đức Phật dạy đầu tiên, đơn giản để chuẩn bị trạng thái định. Trạng thái tĩnh lặng chưa vững chắc của tâm là trạng thái Samatha. Tâm có yên lặng thì mới giải toả được những căng thẳng, lo âu, buồn phiền... là những nguyên do đưa đến bệnh tật, khổ đau.

Làm sao để thực hành thiền Chỉ. Thầy Không Chiếu hướng dẫn một số chiêu thức giúp tâm dừng suy nghĩ còn gọi là "không nói thầm trong não", qua nghe, qua thấy, qua xúc chạm, mỗi chiêu thức thực tập 2 phút, như sau:

"Cốt lõi Phật pháp là thực hành làm sao để tâm không chạy tán loạn, nhưng mà phương pháp thực hành không phải là níu kéo, hay kiềm chế, mà bằng cách thảnh thơi. Đối với tâm phải thực hành bằng cách hiền lành, vui tươi, mát mẻ. Hôm nào quý vị nhìn vào gương mà tươi cười thì dễ coi, còn nhăn nhó thì khó coi. Vì thế thiền là phải thư giãn, thông thả, thoải mái.

- Chiêu thức thứ nhất: Là nghe âm thanh. Ở đây quý vị nghe tiếng chuông. Chúng tôi gõ chuông, quý vị chỉ nghe tiếng chuông, không suy nghĩ gì về tiếng chuông, không phê bình âm thanh của tiếng chuông. Nghe âm thanh chỉ biết nghe là thư giãn thần kinh, thư giãn thân tâm.

- Chiêu thức thứ hai: Thư giãn lưỡi. Lưỡi thả lỏng, hai môi khép nhẹ, hai hàm răng không cắn lại. Gá ý thư giãn nơi lưỡi. Không suy nghĩ gì hết. Lưỡi là cơ chế nói, bây giờ lưỡi thư giãn rồi thì nó hết nói. Thư giãn lưỡi đúng thì kích thích tánh Xúc chạm, thư giãn thân tâm.

- Chiêu thức thứ ba: Mắt nhìn đối tượng. Đối tượng sao thấy y như vậy không thêm bớt. Thấy chỉ biết thấy, giúp tâm dừng lại. Có nhiều cách thấy, hay cách nhìn: nhìn xa, nhìn gần, nhìn lướt tức nhìn lướt qua lướt lại, nhìn lưng chừng, nhìn chằm chằm. Nhìn vẫn nhìn không cần thấy đối tượng là thư giãn.

Đó là tánh Thấy có nghĩa là tôi thấy cái gì trước mặt, hay không có cái gì trước mặt, tôi cũng thấy. Tánh Nghe hay Xúc Chạm cũng thế. Tại sao? Vì tánh Biết không thêm cái gì hết là Biết Không Lời. Thấy mà không thêm bớt, đó là thấy thiền.

Thiền không có nghĩa là ngồi trước bàn thờ Phật hay trong chánh điện mới là thiền. Trong khi đi đứng nằm ngồi hay đang làm gì mà tâm thư giãn, đầu hoàn toàn trống vắng không suy nghĩ thì ở đâu cũng là thiền. Thiền là tập thói quen mới: Thư giãn để chấm dứt thói quen cũ tâm lúc nào cũng căng thẳng."

Tóm lại:

- Thiền là nghệ thuật sống chứ không phải là cái mình tập. Cái mình tập là có "tôi" và có "pháp". Lúc đầu thì còn dùng chiêu thức, kỹ thuật để tập. "Thiền là chiếc xe một số nghĩa là một pháp tập hoài đi tới nơi".

- Thiền là huấn luyện quán tính thói quen hay nói thầm trong đầu để có quán tính mới yên lặng.

- Thiền không phải dừng ở chỗ không nói năng, hiền từ, làm phước mà đi thẳng vô tánh Biết. Cái Biết đó từ cha sanh mẹ đẻ đã có rồi không ai dạy.

Thế nào là Phật pháp đi vào đời sống? Đó là Phật pháp đáp ứng được những khó khăn của con người. Con người sống ở đời, ngoài những giây phút vui vẻ hạnh phúc, những lúc ăn nên làm ra, khó có ai tránh khỏi tình trạng lo lắng buồn phiền khi công việc làm ăn thất bại, khi bị chủ cho nghỉ việc làm, hoặc khi con cái trong gia đình không nghe lời dạy dỗ của cha mẹ ăn chơi hư đốn, v.v... Những nỗi ưu phiền thất vọng đó, đưa đến trạng thái trầm cảm bệnh hoạn cho người trong cuộc.

Nguồn: trích" "Ký Sự Phật Giáo: Buổi Thuyết Giảng Của Thầy Thích Không Chiếu Tại Thiền Đường Mây Từ, Westminster, Californiah "
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Sun Jul 03, 2016 11:57 pm

"Quan Âm Bồ Tát" - Ảnh của Bác Đặng Đức Cương

Image

Câu Quán-Thế thuộc nằm lòng
"Quan Âm Bồ Tát" thuở tròn lời ca
Trãi bao khổ nạn can qua
Lênh đênh giông bão sóng xô trùng trùng
Vịn câu kinh, vượt khốn cùng
Tử sinh cứu độ Phật từ hiển linh.

_ D Đ _
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Sat Jul 23, 2016 12:35 am

Chiếc chăn bông

Nhạc hay ... cuối tuần, trân trọng gởi các bạn vài giây phút thanh an tĩnh lặng.


www.youtube.com Video from : www.youtube.com
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Tue Aug 16, 2016 11:57 pm

Đại Nguyện


Image

Muôn loài như sương rơi, xin làm hoa trắng đỡ
Hoa yêu sương chẳng rời, hoa yêu sương tuyệt vời

Muôn loài như cát trắng, xin làm dòng nước trong
Ra trùng dương tím mát, cát sông vẫn nguyện lòng

Muôn loài như mây lam, xin làm trời bát ngát
Cho mây trôi bạt ngàn, như sương trong rừng trầm

Muôn loài như hoa thắm, xin làm một ánh dương
Cây cỏ mừng ánh nắng, tiếng chim hót dị thường.

Muôn loài như hương thơm, xin làm cơn gió sớm
Ðưa hương đi thập phương, nuôi trăng sao tỏ tường

Muôn loài như con suối, xin làm biển khát khao
Khi buồn như kiếp núi, nước mưa sẽ gột sầu

Xin làm mầu hoa kia, hoa vàng trong kiếp sống
Xin xanh như cỏ dại, bao Thu Ðông thường tại
Xin làm hạt cây nhé, cho đời hiện hữu Xuân

Xin làm chim gõ mõ, gõ tan kiếp hồng trần.
Thương người như thương thân !
Thương người như thương mình !

- Phạm Thiên Thư -
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Tue Aug 30, 2016 12:20 am

Vu Lan

Image

Cúi đầu đảnh Phật dâng hương
Búp sen hoa trổ tứ phương thơm lừng
Bước nghiêm, ý tịnh, tâm hiền
Tìm về bảy bước chân thiền - vườn xưa

Pháp âm Hiếu, Hạnh ngân xa
Nhớ ơn dưỡng dục mẹ cha sinh thành
Bông hồng cài áo - Vu Lan
Đóa vô ưu Mẹ - vô biên rạng ngời .

_ D Đ -
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Sun Sep 25, 2016 8:53 pm

Chốn huyền không

- Đỗ Nhật Nam - 14 tuổi
( Đọc trong buổi Khóa Tu Mùa Hè tại Chùa Hoằng Pháp 20116 )

Một dòng sông bát ngát
Một đầm sen mênh mông
Một nụ hồng ướp sương
Một mùi hương thanh khiết

Giữa mênh mông trời biếc
Ta chợt nhận ra ta
Cõi lòng trần thiết tha
Cùng an nhiên tịnh độ

Chốn huyền không giác ngộ
Biết quên điều hơn thua
Biết ơn nắng ơn mưa
Ơn nhành cây ngọn cỏ

Thấy ta mình bé nhỏ
Trong lặng thinh suối nguồn
Trong chớp bể mưa tuôn
Vẫn bình an hỷ xả

Chập chờn cò bay lã
Trên đồng chiều thênh thang
Chuông chùa lay mênh mang
Sen hồng âm thầm nở.
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Thu Oct 06, 2016 10:26 pm

Lời dặn dò cuối cùng của Đức Phật

Image

Bures-Sur-Yvette (Pháp) biên soạn dựa theo một bài viết của Thiền sư và Giáo sư Triết học ngưới Pháp Gérard Pilet, đăng trong nội san của Hội Thiền học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale), trụ sở tại Paris, và tài liệu của Bukkyo Dendo Kyokai (Society For the Promotion of Bouddhism), trụ sở tại Tokyo.

Thật ra Phật đã đau yếu từ ba tháng trước và đã khởi sự dặn dò người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà. Phật bảo A-nan-đà tập họp các đệ tử để nghe giảng và thông báo trước sự tịch diệt của mình. Lúc ấy Phật đã 80 tuổi. Trong những tháng cuối cùng, Phật đã gầy còm và mệt mỏi, nhưng vẫn đi thuyết giảng như thường, tuy không còn đi xa được nữa. A-nan-đà xin Phật hãy tĩnh dưỡng trong những ngày còn lại, nhưng Ngài khoát đi và dạy rằng : "Thân ta tuy có kém mạnh khoẻ, nhưng lòng từ bi của ta, trí sáng suốt của ta không kém sút. Ta còn tại thế ngày nào thì ngày ấy không phải là một ngày vô ích".
Trong một khu rừng cạnh thị trấn Câu-thi-na (Kusinaga, còn viết là Kuçinagara), ngày nay là một thị trấn nhỏ tên là Kasia, cách 50 cây số về phía đông tỉnh Gorakhpur, và cách 150 kilomét về phía bắc-đông-bắc Varanasi (Bénarès), Phật nằm nghỉ giữa hai gốc cây sa-la. Ngài tự gấp áo cà sa làm bốn, rồi nằm nghiêng về phía tay phải, đầu hướng về phía bắc, mặt hướng về phía tây, hai chân duỗi thẳng, chân này gác lên chân kia. Sau đó Phật ngỏ những lời cuối cùng với các đệ tử để nhắc lại một lần nữa tầm quan trọng của Đạo Pháp. Phật nhắc nhở các đệ tử phải hiểu rằng vị thầy của họ không phải là một nhân vật nào cả, dù đó là Phật, vị thầy đích thực của họ chính là Đạo Pháp. Phật cất tiếng và nhắn nhủ các đệ tử đang ngồi chung quanh Ngài như thế này:

"Này các đồ đệ, các con hãy tự làm đuốc để soi sáng cho các con, hãy trông cậy vào chính sức mạnh của các con; không nên lệ thuộc vào bất cứ ai. Những lời giảng huấn của ta sẽ làm ngọn đuốc dẫn đường cho các con, làm nơi nương tựa cho các con; không cần phải lệ thuộc thêm vào những lời giảng huấn nào khác nữa.
Hãy nhìn vào thân xác các con, các con sẽ thấy cái thân xác đó ô uế biết chừng nào. Khi các con hiểu được rằng lạc thú lẫn đớn đau của thân xác cũng chỉ là cội nguồn chung của khổ đau, khi hiểu được như thế, các con sẽ không thể nào tự buông lỏng cho dục vọng chi phối các con.
Hãy nhìn vào tâm thức các con, các con sẽ thấy cái tâm thức đó biến dạng không ngừng. Vì thế các con sẽ không thể nào tự buông rơi vào chính những ảo giác của tâm thức, để rồi tự duy trì những kiêu căng và ích kỷ do tâm thức tạo ra, nhất là khi các con đã hiểu rằng những xúc cảm đó nhất định chỉ mang đến khổ đau mà thôi.
Hãy nhìn vào tất cả các vật thể chung quanh xem có vật thể nào trường tồn hay chăng? Có vật thể nào không phải là những cấu hợp sinh ra hay không? Tất cả sẽ gẫy nát, tan rã và phân tán. Các con chớ sợ hãi khi nhận thấy khổ đau cùng khắp mọi nơi, hãy noi theo những lời giáo huấn của ta, kể cả sau khi ta đã tịch diệt. Như thế các con sẽ loại bỏ được khổ đau. Thật vậy, cứ noi theo những lời giáo huấn của ta, rồi nhất định các con sẽ trở thành những đồ đệ thật sự của ta.
Này các đồ đệ của ta, những lời giáo huấn ta giảng cho các con, các con đừng bao giờ quên, đừng bao giờ để cho mai một đi. Phải bảo tồn những lời giáo huấn ấy, đem ra nghiên cứu và thực hành. Nếu theo đúng những lời giáo huấn ấy, các con sẽ đạt được an vui.
Những gì hệ trọng nhất trong những lời giáo huấn của ta là các con phải kiểm soát được tâm thức các con. Hãy gạt bỏ mọi thèm muốn và giữ cho thân xác đứng thẳng, tâm thức tinh khiết và ngôn từ chân thật. Nếu các con biết tự nhắc nhở là cuộc sống của các con chỉ là tạm bợ, các con sẽ đủ khả năng loại bỏ mọi thèm khát và hung dữ đưa đến khổ đau.
Nếu các con nhận ra được là tâm thức các con đang có xu hướng bám níu hay vướng mắc vào ham muốn, các con phải gạt bỏ ngay sự ham muốn và chận đứng sự cám dỗ đó. Các con phải làm chủ được tâm thức các con.
Tâm thức có khả năng biến một con người thành một vị Phật hay một con thú. Khi rơi vào sự lầm lẫn, ta có thể trở thành quỷ sứ, nhưng khi Giác ngộ ta sẽ thành Phật. Vì thế, các con phải kiểm soát lấy tâm thức các con và không đi lạc ra ngoài Chính Đạo.
Để có thể giữ đúng như lời giáo huấn của ta, các con hãy kính trọng lẫn nhau và đừng cãi vã. Đừng bắt chước như nước với dầu xô đẩy lẫn nhau; hãy bắt chước như nước với sữa, có thể hoàn toàn hòa lẫn vào nhau.
Hãy cùng nghiên cứu với nhau, cùng giảng giải cho nhau, thực hành với nhau. Không nên phí phạm tâm thức của các con và thời giờ của các con trong sự cãi vã hay lười biếng. Hãy hân hoan đón nhận hoa thơm của Giác ngộ vào lúc ra hoa và hái lấy quả ngọt trên Đường Ngay Thật.
Những lời giáo huấn ta ban cho các con là do nơi kinh nghiệm của chính ta, và chính ta đã noi theo con đường đó. Các con nên tuân theo những lời giáo huấn ấy và giữ đúng như thế dù phải gặp hoàn cảnh khó khăn nào. Nếu các con xao lãng, có nghĩa là các con chưa hề gặp được ta, các con thật sự còn đang ở một nơi nào đó thật xa, dù cho trong lúc này đây các con đang ngồi bên cạnh ta cũng vậy. Nhưng nếu ngược lại, các con chấp nhận và đem ra thực hành những lời giáo huấn của ta, thì dù cho các con ở thật xa trong một chốn tận cùng của thế giới, nhưng cũng giống như các con đang ở bên cạnh ta trong lúc này. Hỡi các đồ đệ, phút cuối cùng của ta đã gần kề, phút xa lìa giữa ta và các con không còn bao lâu nữa. Tuy nhiên các con không nên than khóc. Sự sống là một sự đổi thay không ngừng và không có gì cản trở được sự tan rã của xác thân. Cái sự thực đó, ta đang chứng minh cho các con thấy ngay trên thân xác của ta, thân xác ta sẽ tan rã như một cỗ xe hư nát. Đừng than khóc một cách vô ích, trái lại các con phải hân hoan khi nhận ra được cái quy luật biến đổi ấy và hiểu được rằng sự sống của con người chỉ là trống không mà thôi. Đừng cố gắng duy trì cái khát vọng phi lý, mong muốn những gì tạm bợ phải nhất định trở thành trường tồn.
Con quỷ của những dục vọng thế tục luôn luôn tìm cách đánh lừa tâm thức các con. Nếu có một con rắn độc trong phòng, các con sẽ không thể nào ngủ yên nếu chưa đuổi được nó ra ngoài. Các con phải cắt đứt những mối dây ràng buộc của thèm khát thế tục và dứt bỏ những mối dây đó như các con đã đuổi bỏ con rắn độc ra khỏi phòng. Các con phải bảo vệ thật cẩn thận tâm thức các con. Này các môn đệ của ta, giây phút cuối cùng của ta đã đến, tuy vậy các con phải hiểu rằng cái chết chỉ là sự tan rã của xác thân vật chất mà thôi. Thân xác được cha mẹ sinh ra, nó lớn lên nhờ thức ăn, nó không có cách gì tránh khỏi bịnh tật và cái chết. Một vị Phật đích thực không mang thân xác con người, mà vỏn vẹn chỉ là sự Giác ngộ. Chỉ có sự Giác Ngộ mà thôi. Thân xác con người phải tiêu tan, nhưng Trí tuệ của Giác ngộ sẽ trường tồn vô tận trong thực thể của Đạo Pháp, trên con đường tu tập Đạo Pháp. Nếu có ai chỉ thấy thân xác ta thì kẻ ấy không thấy ta một cách thật sự. Chỉ có người nào chấp nhận những lời giáo huấn của ta mới thật sự nhìn thấy ta.
Sau khi ta tịch diệt, Đạo Pháp thay ta làm vị thầy cho các con. Biết noi theo Đạo Pháp, ấy chính là cách các con tỏ lòng trung thành với ta. Trong bốn mươi lăm năm sau cùng trong cuộc đời của ta, ta không hề giấu giếm điều gì trong những lời giáo huấn. Chẳng có một lời giáo huấn nào bí mật, không có một lời nào mang ẩn ý. Tất cả những lời giảng của ta đều được đưa ra một cách ngay thật và minh bạch. Này các con yêu quý của ta, đây là giây phút chấm dứt. Trong một khoảnh khắc nữa ta sẽ nhập vào Niết bàn. Những lời này là những lời dặn dò cuối cùng của ta cho các con".

Sưu tầm
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Tue Nov 22, 2016 12:25 am

Ở đây và bây giờ

- Đỗ Hồng Ngọc -

Một nhà báo nằm chiêm bao thấy gặp Thượng Đế bèn mở máy ghi âm xin phép được phỏng vấn vài câu nếu Ngài có thì giờ.

– Cứ tự nhiên. Thì giờ của ta vô lượng!

– Từ khi… tạo ra loài người, Ngài có điều gì băn khoăn thắc mắc về họ không?

– Nhiều lắm.

– Chẳng hạn?

– Loài người rất lạ. Lúc nhỏ thì mong cho mau lớn. Lớn rồi thì mong cho nhỏ lại…

Nhà báo giật mình, thấy hơi nhột. Thượng Đế tiếp:

– Lạ nữa, lúc trẻ khỏe thì họ mang hết sức lực ra đấu đá tranh giành để kiếm cho thật nhiều tiền… Rồi khi có tuổi, họ mang tiền đó ra… phục hồi sức khỏe!

Nhà báo rút khăn lau mồ hôi trán.

– Nhưng lạ nhứt là loài người không sống!

– Nghĩa là họ…

– Không. Họ vẫn tồn tại nhưng không sống. Họ luôn nhớ tiếc dĩ vãng hoặc mơ ước tương lai. Mà dĩ vãng thì qua rồi, tương lai thì chưa tới. Họ luôn ở trong cái đã qua rồi hoặc cái chưa tới… nên nói họ không sống…

– Ý Ngài là phải biết sống trong hiện tại?

– Phải. Ở đây và bây giờ.



Nhà báo tỉnh giấc, toát mồ hôi, đưa tay vò mái tóc… lẩm bẩm: “Đời tôi ngốc dại/ Tự làm khô héo tôi đây/ Nửa đêm thức dậy/ Chập chờn lau trắng trong tay…” (Trịnh Công Sơn)

Rồi sực nhớ lời Phật dạy:

Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu…

…………………………………………………………………………………………………………………………

(báo Văn hóa Phật giáo, số 261, tháng 11/2016)
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Sat Dec 10, 2016 8:44 am

Con đường dẫn đến Hạnh Phúc - Dalai Lama's


www.youtube.com Video from : www.youtube.com
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Mon Feb 06, 2017 10:58 pm

CHUYỆN GÀ TRONG KINH PHẬT

Có thể nói, hầu hết các thời thuyết giáo, Đức Phật đều vận dụng những hình ảnh để thí dụ giúp người nghe dễ hiểu, lãnh hội được điều Ngài muốn trao truyền. Trong kho tàng văn học Phật giáo, từ Kinh tạng Nikāya cho đến Chú giải Aṭṭhakathā đều có ghi lại những hình ảnh thí dụ đặc sắc ấy.

Nhân năm mới Đinh Dậu, năm con gà, tác giả xin kể về một vài chuyện liên quan đến gà trong kinh và chú giải, nhất là Chú giải chuyện tiền thân (Jātaka-aṭṭhakathā).
------------------
Image


1. Trong kinh Tăng chi bộ, nói về công phu tu tập của một vị Tỳ-kheo, Đức Phật đã mượn hình ảnh con gà ấp trứng để làm thí dụ. Một vị Tỳ-kheo mong mỏi được giải thoát khỏi các lậu hoặc nhưng nếu như vị ấy không chịu nỗ lực tu tập bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm quyền, năm lực, bảy bồ-đề phần, Thánh đạo tám ngành thì sự mong mỏi của vị ấy không thể nào thành tựu được. Cũng giống những quả trứng gà nếu không được ấp đúng cách thì không thể nào nở ra được gà con. Ngược lại, nếu vị đệ tử tu tập đúng theo các pháp ấy thì sẽ được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.

Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: ‘Mong rằng những con gà con của ta, với chân móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn, tuy vậy, các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn!

Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà ấy không được con gà mái nằm ấp một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không chú tâm trong sự tu tập, dầu cho có khởi lên ý muốn: ‘Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ’; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”(1).

2. Tiếng gà gáy báo thức cho mọi người bắt đầu công việc của ngày mới. Thế nhưng vì gáy sai thời, không đúng giờ mà một con gà trống phải bị bẻ cổ đau đớn. Câu chuyện này được ghi lại trong chuyện tiền thân Gà gáy phi thời (Akālarāvijātaka).

Thuở xưa, khi Bồ-tát làm vị thầy dạy học cho năm trăm thanh niên học trò. Tại nhà của Bồ-tát, có một con gà trống thường gáy rất đúng giờ nên các học trò dựa vào tiếng gáy ấy mà thức dậy học bài. Một thời gian sau con gà bị chết nên mọi người bắt một con gà trống khác về để làm báo thức. Vì trước đây quen sống ở nghĩa địa, nó không biết giờ nào cần phải gáy, có khi nó gáy lúc nửa đêm, có khi nó gáy lúc rạng đông.

Khi các thanh niên học trò nghe nó gáy lúc nửa đêm, họ thức dậy học bài, cho đến rạng đông họ quá mệt không học được nữa. Vì buồn ngủ, họ không thể tiếp thu được bài học. Và khi quá sáng, con gà ấy gáy ồn ào thì họ không có cơ hội yên tĩnh để học bài. Sự việc này khiến các vị ấy mệt mỏi nên họ mới bàn nhau vặn cổ con gà cho đến chết. Sau đó, các học trò trình lên Bồ-tát và được ngài thuyết cho bài kệ:

Không mẹ cha nuôi dưỡng

Không thầy, dạy dỗ nó

Con gà này không biết

Ðúng thời hay phi thời.

Nhân duyên của câu chuyện tiền thân này liên quan đến một vị Tỳ-kheo không biết giờ nào nên làm việc gì cho thích hợp vì không được dạy dỗ. Vị ấy không biết: thời này, ta phải làm việc này; thời này, ta phải hầu hạ; thời này, ta phải học hành. Trong canh đầu, canh giữa và canh cuối và trong những giờ thức giấc, vị ấy làm ồn, khiến các Tỳ-kheo không thể ngủ được. Thế Tôn cho biết, con gà trống gáy phi thời cũng chính là tiền kiếp của vị Tỳ-kheo ấy(2).

3. Một câu chuyện khác cũng kể về con gà trống. Thế Tôn kể câu chuyện này để cảnh tỉnh một vị Tỳ-kheo đang mơ tưởng về đời sống thế tục khi dính mắc vào hình ảnh một mỹ nữ kiều diễm. Chuyện kể rằng: Khi ấy Bồ-tát được sinh làm gà trống sống trong rừng với hàng trăm gà trống khác. Không xa đó có một con mèo cái. Nó đã dùng nhiều mưu kế dụ dỗ những con gà trống để ăn thịt, ngoại trừ Bồ-tát là nó không bắt được vì ngài rất thông minh. Mèo cái tìm cách làm thân với gà trống bằng cách xin kết nghĩa phu thê với gà để bắt gà ăn thịt. Dù mèo cái dùng lời ngon tiếng ngọt nhưng mưu kế ấy không thể làm cho gà trống xiêu lòng(3).


4. Lại một câu chuyện khác cũng nói về con gà trống nhưng liên hệ đến âm mưu sát hại Thế Tôn của Devadatta(4). Vào thời ấy, Bồ-tát làm chúa của một đàn gà lớn. Có một con diều hâu tìm cơ hội kết thân để bắt gà chúa ăn thịt nhưng âm mưu ấy bất thành. Bồ-tát nói rằng: “Không nên tin cậy người làm ác, không nên tin cậy người nói không thật, không nên tin cậy người chỉ biết lợi ích của bản thân, thậm chí không nên tin cậy người quá an tịnh… Ở đây, một số người với vẻ ngoài bạn bè, với lời nói trau chuốt nhưng không phải tự tâm, theo nhiều phương thức khác nhau, thậm chí không nên tin cậy người như thế ấy” (5).

Kể về sự phản bội của Devadatta thì thật không thấy ai lại ác tâm đến thế. Từng là người anh vợ(6), vừa là anh em cô cậu(7) với Thái tử Siddhattha, vậy mà lúc xuất gia, vì danh vọng che mờ lý trí, Devadatta đã phản bội lại bậc Đạo sư của mình. Bằng nhiều âm mưu và cách thức, Devadatta tìm mọi cách để sát hại Đức Phật nhưng đều bất thành. Bởi vì do oai lực của vị Phật Chánh Đẳng Giác, không một ai trên thế gian có khả năng làm hại được Ngài.


***

Qua các câu chuyện về gà trong kinh điển Phật giáo được dẫn ra, hẳn chúng ta sẽ có thêm nhiều bài học mới.
Thứ nhất, phải biết nỗ lực tu tập các pháp đưa đến giải thoát như là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm quyền, năm lực, bảy bồ-đề phần, Thánh đạo tám ngành. Vì nếu không tu thì không bao giờ giải thoát, chứ đừng có ngồi đó mà tụng niệm suông hoặc cầu xin cũng vô ích. Như gà không biết ấp trứng thì làm sao có được gà con.
Thứ hai, đừng bao giờ giống như con gà gáy phi thời. Cần biết rõ điều gì nên làm và điều gì không nên làm.
Thứ ba, nghiệp do ta tạo, chính nghiệp đó theo ta như bóng với hình(8), cho nên làm việc gì, nói lời chi hay nghĩ cái nào cũng phải tác ý thật cẩn thận theo hướng thiện lành. Chúng ta phải chịu trách nhiệm do hành động hay lời nói của chính mình, không ai gánh chịu giùm quả báo và cũng không ai cướp lấy được phước báo. Nghiệp là của ta và ta chính là chủ nhân của nghiệp.


Samādhipuñño Định Phúc

_________________

1 Tăng chi bộ kinh, chương Bảy pháp, Đại phẩm, kinh Sự tu tập (A.iv.125f).

2 Chuyện tiền thân Gà gáy phi thời (J.119; JA.i.435f).

3 Chuyện tiền thân Con gà trống (J.383; JA.iii.265f).

4 Tạng Luật, Tiểu phẩm, chương Chia rẽ hội chúng, tụng phẩm thứ hai (Vin.ii.194ff).

5 Chuyện tiền thân Con gà trống (J.448; JA.iv.55ff).

6 Hoàng tử Devadatta là anh của công chúa Yasodharā, cậu của Rāhula.

7 Devadatta là con trai của vua Suppabuddha và hoàng hậu Pamitā (em gái của vua Suddhodana, cô ruột của Thái tử Siddhattha).

8 Kinh Pháp cú, kệ 1-2.
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Mon Mar 27, 2017 11:36 pm

Image


Hương thìền

Nụ non lá nhú lên mầm
Mùa xuân vừa đến trong ngần nhánh hương
Niềm vô thức, cõi uyên nguyên
Chiêm bao thiền niệm thức miền vô ưu
Vạn hoa mở cánh tâm từ
Sớm mai hóa hiện nụ cười vô ngôn .

_ DĐ _
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Mon May 08, 2017 1:09 am

Niêm Hoa Vi Tiếu - Nụ Cười Của Phật

Hỷ xả - Từ bi - Trang nghiêm thiền định


Đức Thích Ca Mâu Ni đã thị hiện giáng trần 2561 năm về trước, khai sáng đạo từ bi cứu khổ chúng sanh . Đức Phật lấy lòng từ bi, hỷ xả, và lấy thiện tâm làm cốt lõi.
Lịch sử Phật Giáo có ghi lại khi vừa sinh ra, Đức Phật đã đi bảy bước, dưới mỗi bước chân nở một đóa sen nâng gót. Đến bước thứ bảy, Đức Phật một tay chỉ trời, một tay chỉ đất và thốt
:
" " Thiên tượng thiên hạ, duy ngã độc tôn"

“Sen, tượng trưng cho sự tinh khôi bất nhiễm.

- Bảy bước, con số chỉ vũ trụ (thời gian phân 3 + không gian có 4 chiều= 7). Con số 7 còn là con số biểu tượng trình tự tu chứng, là bảy cấp tiến đến giác ngộ: Thất Bồ đề phần. Chưa thấy chỗ nào nói đó là biểu thị đời thứ 7 tính từ Phật quá khứ Tỳ Bà Thi, vì nếu thêm một Đức Phật nữa đản sinh sau này lẽ nào phải bước thêm một hoa sen nữa?

- Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn (trên trời dưới trời, Ta là bậc tôn quý hơn cả”. Con người “tối linh ư vạn vật”. Bởi chỉ có con người mới có thể có đầy đủ tình cảm, trí tuệ và ý chí (Bi, Trí, Dũng).

Chỉ có con người mới có khả năng siêu việt mọi ràng buộc, vượt thoát mọi thống khổ, dục vọng và khoái lạc để tự trở thành” đóa sen” bất nhiễm tinh khôi một khi quyết chí xuất trần thượng sĩ, thung dung trên bước đường tu đạo Thất Bồ đề phần. Thái tử Tất Đạt đã gióng lên tiếng chuông thức tỉnh những cái ta còn đang ngủ quên miên man trong giấc trần tục, hãy nhìn lại giá trị đáng tôn xưng vào bậc nhất mà ngay cả cõi trời (thiên thượng) hay súc sanh (thiên hạ), không chúng sanh nào có được.


www.youtube.com Video from : www.youtube.com
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Mon May 22, 2017 12:00 am

MẸ TÔI

Tác giả: Sư Bà Thể Quán -

Mẹ mất đã năm năm, nhưng dư hương của mẹ đối với tôi như còn phảng phất. Ðường mai mẹ đi, phòng nhà mẹ ở, đâu đâu cũng còn ngát thơm mùi mẹ. Tôi biết rằng: 'Ái bất trọng bất sanh Ta bà, niệm bất nhất bất sanh Tịnh độ', nếu tôi còn lưu luyến về mẹ thì thật trái lời Phật dạy, tín hữu sẽ cho tôi nói làm bất nhất. Song mẹ con tôi hẹn nhau đã có chỗ, gặp gỡ đã có nơi:
Mẹ về Cực lạc ít năm thì
Từ giã Ta bà con cũng đi
Mẹ nhớ đón con bên nước Phật
Mẹ, con cùng dự hội Liên Trì.
Ðó, mẹ con tôi đâu còn trở lại Ta bà? Ở Cực lạc mà tu cho đến khi đắc lực rồi phân thân vô số để độ chúng sinh. Nay viết mấy lời 'Ðể lại cho vui' mà không nói về Mẹ một ít thì cái vui mất đi đến nửa. Và tôi nghĩ rằng, một ngày nào khi đủ duyên, tập sách nhỏ này đến tay quý vị, những vị nào đã gặp mẹ tôi lúc về già, dù chỉ một lần thôi, cũng thấy những gì tôi viết về mẹ không thêm một lời, không bớt một ý.
Mẹ ơi, sau khi trả con về cho cha, mẹ thật đã hy sinh chịu đau khổ cho con được sung sướng. Mẹ hòa tình thương con với thương bà ngoại làm một mẹ rất có hiếu. Khi ngoại mất, mẹ khóc kể: 'Mẹ ơi, con sáu lăm tối nằm với mẹ tám ba, mẹ nhường chỗ ấm cho con, thật là mẹ chín mươi thương con bảy chục'. Mỗi khi cúng cơm, mẹ thắp thuốc xoay trầu cho bà ngoại. Mẹ rất kính Phật trọng Tăng, nhưng nâu sòng chay lạt thì mẹ rầu lắm. Vì hiếu với ngoại, mẹ dùng chay theo ngoại mỗi tháng mười ngày. Những ngày đó mẹ rầu như bị phạt. Lúc tôi xuất gia, ăn trường trai, mẹ phục lắm, gọi bằng chị liền, mẹ bảo: 'Ăn chay được thì tôi cho là Phật sống rồi đó'. Mẹ là dân trời (hoàng tộc) nên mặc dù không giàu mà phong lưu, phục sức lụa là, mẹ ưa nem chả, gặp mấy ngày chay liên tục từ 28 đến mồng một, mẹ gọi là đi tàu suốt, buồn bã rã rời, thức cho đến 12 giờ khuya để ngã mặn. Lúc ngoại mất, mẹ gần bảy mươi, ở hương khói cho ngoại. Mẹ sợ nhất tôi rủ cụ lên chùa, nên đưa ra bài toán nan giải này: 'Tui là bà Thanh Ðề đây, nghiệp chướng nặng nề lắm, ưa mùi cá thịt tanh hôi, chị tu răng cho bằng ngài Mục Kiền Liên mới độ tui nổi'.
Ngoại mất hai năm thì ni sư CT bàn: 'Ngoại mất rồi, mệ một mình đơn chiếc, sư lên về hao tốn. Nếu sợ ở với chúng mệ mất tự do, thì sư làm một cái nhà nhỏ ngoài vườn dừa, rồi ngoại giao với lối xóm nhờ họ kho trách cá trách thịt, mệ ra đó ngã mặn thì may ra mệ lên chùa được'. Nghe pháp muội đưa ý kiến chí tình chí lý, tôi cám ơn đến trào nước mắt. Năm ấy tôi vừa ra quyển 'Hai lần ơn Mẹ' được 150 ngàn, tôi làm nhà ngay. Nhà xong, tôi tôn trí tượng Quan Âm và thọ trì tại nhà mới một bộ Pháp Hoa. Khai kinh ngày 20/7, sau khi giải hạ, đến 26 xong, tôi khuynh hết tấc thành cầu Phật Bồ Tát xui khiến cho mẹ phát tâm lên ở chùa. Nhưng, thật tình tôi cũng ngại, mẹ nhiều nghiệp chướng, mà mình tu hành chưa ra chi, chắc Phật cũng khó xử, vậy xin để tùy ý Phật.
Hoàn kinh xong, tôi về hầu mẹ, thưa: 'Ngày mai mẹ đi tàu suốt, con mời mẹ lên chùa, mấy cô nấu chay ngon lắm. Mẹ ở bốn ngày, chiều mồng một về, khuya ngã mặn. Mẹ lên thử bốn ngày coi, mấy cô mấy chị điệu ai cũng trong ngoại lên chơi cả, và mẹ có một cái nhà mới xinh xắn. (Khi làm nhà, tôi không thưa với mẹ để dành một ngạc nhiên)'. Mẹ suy nghĩ một lúc rồi dạy: 'Thôi, lên thì lên luôn cho rồi'. Nghe mẹ dạy tôi lạnh xương sống, nghĩ làm sao lại có chuyện ấy được? Tôi thưa: 'Không, mẹ chỉ lên ít ngày cho vui, qua bốn ngày chay rồi về lại, chớ lên luôn làm chi!'. Mẹ dạy: 'Không, tôi đã nghĩ kỹ, trên bảy chục rồi, ăn cá thịt đã đủ, Chị nói mụ Diên ra mời ông thợ cúp vô thế phát cho tôi, rồi tôi sửa soạn lên chùa luôn'. Lạy Phật, giờ đây viết lại đoạn này, tôi vẫn còn tưởng như là một giấc mơ. Phật lực Pháp lực thật bất khả tư nghì. Nhờ ơn Tam Bảo và diệu kế của pháp muội mà mẹ tôi được lên chùa một cách bất ngờ. Lạc nguyện của mẹ con tôi đã thành tựu.
Mẹ ở chùa một thời gian thì xảy biến cố Mậu Thân. Qua nhiều cơn kinh hãi, mẹ đâm ra lẩn thẩn đến nổi gọi tôi bằng mạ. Những chiều tôi đi giảng xa, mẹ thường bảo dì Diên: 'Mụ đi tìm mạ tui cho tui một chút'. Tôi chưa về kịp, mẹ ngồi khóc nước mắt ràn rụa làm cả chùa ai cũng rưng rưng theo. Mẹ quên đến độ ấy, mà lễ phép thì không quên, cô nào gọi mẹ cũng dạ. Trong chùa có một điệu tám tuổi, gọi: 'Cố ơi!', mẹ đáp 'Dạ ơi', điệu thương quá ôm hôn và dặn: 'Con là nhỏ nhất trong chùa, cố ơi chớ đừng dạ mà tội hí'. Mẹ tôi dạ một cái rầm, khiến ai cũng cười lăn. Mẹ đẹp lắm, và vô tư, nên ai cũng thương. Những ngày tôi đi vắng, chúng xúm lại chơi với mẹ, lấy bút chì đỏ bôi môi thoa má cho mẹ, hái hoa dại đeo tai cho mẹ. Mẹ mặc bộ com-lê mầu mỡ gà ngồi như pho tượng, chúng tha hồ làm chi thì làm, thấy mẹ đẹp như bà tiên. Làm đẹp xong họ nói: 'Gả mệ cho Diêm Vương hí?'. Mẹ dạ tỉnh bơ. Mấy chị em đặt cái nhà mẹ ở là 'quán gió', mỗi chiều họ xúm quanh mẹ chơi đùa. Các tín hữu đem đồ chơi biếu mẹ như làm quà cho con nít. Có bà biếu tấm ảnh quảng cáo nấm tông cú, vẽ cô gái đẹp, mẹ thích lắm, chơi với cô ta suốt ngày.
Một hôm tôi ngồi hầu, mẹ chỉ cô gái: 'Cô ni đẹp quá, mặt trái soan nì, lỗ mũi cao, con mắt thật xinh, miệng cười cũng đẹp mà hàm răng cũng đẹp nữa luôn'. Tôi chỉ tôi rồi thưa: 'Rứa mẹ nhìn xem cô ni với cô nớ, cô mô đẹp hơn?'. Mẹ nhìn tôi một lúc rồi cười chúm chím không đáp. Tôi hỏi: 'Mẹ coi cô mô đẹp hơn'. Mẹ trả lời tỉnh bơ: 'Dạ thôi đừng nói nữa'. Tôi biết mẹ khó trả lời, nên cố nài: 'Ðừng nói răng được, mẹ phải thanh toán vấn đề cho xong chớ'. Rồi tôi chỉ: 'Con mắt của cô ni với cô nớ ai đẹp hơn, lõ mũi cô nớ với cô ni ai đẹp hơn?' (tôi chỉ con mắt nheo nheo và lỗ mũi xẹp của tôi), 'và mẹ coi hàm răng của cô nớ và cô ni ai đẹp hơn?' (tôi chỉ hàm răng sún của tôi). Mẹ nghĩ một lúc rồi nói: 'Cô nớ đẹp mà không đẹp, cô ni không đẹp mà đẹp'. Rồi mẹ ôm tôi. Tôi đem câu chuyện ấy bạch quí ngài, quí ngài dạy: 'Bà cụ lẫn mà biện tài vô ngại, tui sáng suốt như ri mà hỏi rứa chắc tui nói cũng không được'.
Một hôm, khi chị em vây quanh, mẹ nói: 'Tui chừ không ưng chi cả, không thương ai cả!'.
Tôi hỏi:
-- Mẹ có thương con không?
-- Dạ không.
-- Mẹ có thương cháu không?
-- Dạ không.
-- Mẹ có thương tiền không?
-- Dạ cũng không.
-- Rứa mẹ có thương Phật không?
Mẹ nghĩ một tí rồi đáp:
- Dạ, người nớ thì thương lắm.
Qua năm Nhâm Tý, Quảng Trị chạy loạn vào Thừa Thiên, tôi bàn giao công việc cho pháp muội, hầu mạ vào Ðà Nẵng, Nha Trang rồi Phan Rang. Ðến đâu ai cũng thương, và ưa chơi với mẹ. Phòng mẹ lúc nào cũng có các ni cô và phật tử xúm lại nghe mẹ nói chuyện mà cười lăn. Mẹ đến thăm hai dì tôi, ở lại. Hai dì dâng rượu chúc thọ mẹ 82 tuổi, ca hát cho mẹ nghe. Mẹ ngồi từ bi tự tại không nói năng chi cả. Dì út ôm mẹ: 'Chị tôi ngồi như Bụt sống, không nói chi với hai em cả. Hai em của chị đây, chị có biết không?'. Bỗng mẹ chỉ lên bàn thờ bảo: 'Nì, thờ cha mẹ thì thờ một bên, để giữa mà thờ cha mẹ chồng'. Hai dì sững sờ: 'Trời ơi, té ra chị tôi không lẫn chi cả'. Rồi dì đứng dậy để ảnh ông bà ngoại qua một bên, cha mẹ chồng vào giữa. Mẹ nói: 'Ứ, rứa mới phải chứ.'
Sư cụ viện chủ chùa Diệu Ấn Phan Rang mời mẹ vào chơi. Tôi cũng muốn hầu mẹ đi đổi gió nên nhận lời. Sư cụ để riêng tịnh thất tiếp mẹ tôi, theo yêu cầu của sư cụ, tôi đặt tên Lăng Già Thất. Thất không rộng nhưng gọn và xinh, dưới ở, trên gác thờ Phật. Ngày hai buổi cơm nước xong, tôi hầu mẹ lên lầu tụng Thủy Sám để mẹ lạy và nghe, mẹ ưa lắm. Tôi lạy thì mẹ lạy theo, tôi tụng thì mẹ gõ nhịp. Có con chó Tu Di nằm khoanh tròn dưới chân bàn Phật. Khi tôi quì tụng, mẹ bảo nó: 'Nì, mạ tụng kinh thì phải ngồi mà nghe như tui ri nì, chớ đừng nằm mà tội'. Nói không nghe, mẹ xích tới đẩy nó, lôi nó cũng không dậy, mẹ bảo: 'Thôi thì có mệt mỏi mà nằm cũng được, nhưng xây đầu vô bàn Phật, chớ xây lưng rứa mà tội lắm nghe'.
Tịnh thất sư cụ lát ca-rô tấm đen tấm trắng, những ngày hạ lau thật sạch, mẹ ngồi chơi một mình. Tôi nghe mẹ nói: 'Tui nói chuyện với chị đen ni nhiều lắm, chị có nghe không? Mà không thấy chị trả lời trả vốn chi cả rứa? Còn cái chị trắng ni (chỉ tấm gạch trắng) cũng khinh người, chị cũng chẳng nói năng chi với tui cả'.
Cuối năm 1973 tôi cõng mẹ về lại Huế, mẹ được 85 tuổi, càng lẫn nhiều. Những đêm mưa lạnh kinh khủng tôi thường nằm với mẹ, vỗ mẹ và thưa: 'Ngày nhỏ mẹ ấp con, bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn phải không mẹ?' Mẹ dạ. 'Bây giờ mẹ già, con nằm hầu mẹ thì bên ướt (nước tiểu của mẹ) con nằm, bên ráo mẹ lăn phải không mẹ?' Mẹ cười không đáp. Tôi thưa thêm: 'Con chỉ hầu mẹ một kiếp ni nữa thôi hí, rồi con về Cực lạc, mẹ có thương con thì gắng niệm Phật thật nhiều để cùng về Cực lạc với con hí'. Mẹ xây mặt vào tôi: 'Nì, cái nớ tôi để một rương đầy, đợi chi mà khuyên tui?'. Tôi hỏi: 'Mẹ để cái chi mà một rương đầy?'. Mẹ đáp: 'Cái Phật'. Năm sáu ngày sau tôi mới nhớ, mẹ dạy đúng, vì mẹ niệm công cứ đã trên hai mươi năm.
Mẹ xơi cơm xong bảo dì Diên: 'Mụ cho tui ba đồng'. Dì thưa: 'Chớ mệ lấy ba đồng làm chi?' Mẹ cầm tay dì, bảo: 'Tui nói thì lấy ý mà hội, chớ đừng nghe lời'. Dì thưa: 'Dạ hội là răng? Cha tui hội cũng không được, nữa là tui' - 'Nhưng ba, bốn lượt như vậy mà dì hội được mới tài chứ'. Mẹ xơi cơm xong cứ đòi ba đồng. Dì vấn một điếu thuốc đưa, mẹ liền chắp tay vái dì rồi ôm tay dì hôn. Dì Diên cũng mê mẹ nốt. Dì cuốc cỏ ngoài vườn, mẹ ngồi trong cửa sổ nhìn ra, dì gọi: 'Mệ ơi', mẹ: 'Dạ ơi' thật lớn, làm dì bỏ cuốc chạy lại cửa sổ cầm tay mẹ hôn.
Những ngày cuối cùng - Bây giờ mẹ nằm, không còn cầm đũa muỗng được, mỗi khi xơi cơm phải đỡ dậy. Khi đút cơm cho mẹ, tôi thường niệm Phật và đếm thầm. Thức ăn vừa miệng thì đếm tiếng thứ tám chín là mẹ nuốt. Tôi mừng thưa: 'Mẹ xơi ngon không mẹ?' Mẹ trả lời: 'Dạ ngon vô cùng vô tận'. Những thứ mẹ không ưa thì mẹ cứ nhai hoài, tôi niệm đến năm sáu chục tiếng Phật, mẹ cũng chưa nuốt. Tôi thưa: 'Có ngon không mẹ?'. Mẹ dạy: 'Dạ vừa thôi', thật là dễ thương. Từ ngày mẹ lên chùa cho đến ngày cuối chưa lúc nào mẹ đòi thứ này thứ kia, nhất là cá thịt. Cho nên, tôi chả có ngoại giao với các bà lối xóm để mẹ ngã mặn lần nào cả.
Ðầu năm Bính Thìn, tức 1976, khuya 27 tháng Giêng đúng 3 giờ 30 , mẹ về Phật. Mẹ bỏ ăn vài ngày rồi ra đi thật nhẹ nhàng. Tôi chả được dâng mẹ một viên thuốc nào trong mười mấy năm mẹ ở chùa, vì chả lúc nào mẹ bệnh. Tiễn mẹ về Cực lạc xong, tôi viết một bức thư gởi mẹ bên kia thế giới:
"Mẹ! Mẹ về Cực lạc trước, Mẹ trồng cây 'Mẹ' cho cao thiệt cao. Bao giờ cành lá xum xê, con sẽ làm con chim bay về đậu trên cành cây 'Mẹ' mà không dám làm sờn cành rụng lá đâu.
Mẹ ơi, Mẹ đừng ngại, cây bên Tịnh độ không sợ người đẵn gốc, bứt lá bẻ cành. Chim bên Tịnh độ không sợ người bắn ná phá tổ bắt chim, vì cây và chim đều do Ðức Phật hoá sanh. Chim con chuyền trên cành cây Mẹ, con hót tiếng thật êm đềm, tiếng Pháp âm nhắc mẹ tu hành hầu dự vào Phật địa. Gió trên cành cây Mẹ có tiếng vi vu cũng là Pháp âm nhắc con tinh tấn để bước lên Phật quả. Sương trên cành là sữa, con uống sữa mẹ trên cành cây tịnh, Mẹ con mình tu hoài tu mãi cho đến khi đắc quả mẹ hí.
Ðồng thời, nguyện cầu cho tất cả chúng sanh, những người niệm Phật thì được về nước Phật, còn ai chưa niệm Phật thì phát tâm niệm Phật, rồi cũng được về với Phật như Mẹ con mình. Mẹ ơi! con thương mẹ vô cùng vô tận, nhờ nghĩ đến ngày Mẹ con gặp nhau bên nước Phật mà con cảm thấy vui và rất an tâm. "
Một năm sau ngày mẹ mất, tôi vào Nha Trang rồi thăm lại Phan Rang, nhớ mẹ tôi cảm tác bài thơ:

"Năm kia cõng mẹ vào đây
Nhãn ngon một nhánh tự tay ta trồng
Bây giờ nhãn đã ra bông
Than ôi từ mẫu đi không trở về
Lăng già trăng chiếu ủ ê
Quyện theo hồn mẹ biết về phương nao?
Không gian trời dệt mây sầu
Ta dìu hồn mẹ khỏi cầu sông mê
Lạc bang cảnh cũ mẹ về
Ðược gần Ðức Phật tựa kề đài sen
Giã từ thế giới đão điên
Bao giờ hoàn nguyện ta nguyền ra đi
Bên nớ vui hơn bên ni
Gặp Phật, gặp Mẹ còn chi vui bằng!"
________________________________________
Source: Phat-Hoc Magazine, August 1997, Kentucky, USA



Vài hàng về Ni Sư Thể Quán:

Ni trưởng Thích nữ Thể Quán thế danh là Thái Thị Hậu, thân phụ là Đông các Đại học sĩ Thái Văn Toản, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Phước Như Nguyện, thuộc dòng dõi Tùng Thiện Vương. Từ thuở nhỏ, Ni trưởng đã sớm kết duyên lành với cửa Phật khi được thân phụ đưa đến quy y thọ giáo với Hoà thượng Chơn Đạo Chánh Thống tại chùa Quy Thiện, được ban pháp danh là Không Luân.
Năm 27 tuổi, xin phép song thân, Ni trưởng xuống tóc cầu xuất gia với cố Ni trưởng Hướng Đạo, trú trì chùa Diệu Viên. Năm 30 tuổi, đến cầu pháp với Hoà thượng ni Trừng Ninh Diệu Hương, đệ nhất Giám đốc Ni viện Diệu Đức - Huế, được ban pháp hiệu là Thể Quán.
Năm 1958, cùng với Ni sư Thích Nữ Cát Tường, Ni trưởng đã khai sáng Tịnh thất Hoàng Mai để làm nơi tịnh tu, tiếp dẫn đồ chúng và phụng dưỡng mẫu thân. Với tư chất mẫn tiệp, bản tính nhu hoà, đạo phong của Ni trưởng không chỉ khiến cho các bạn đồng tu vị nể, thương yêu mà còn là niềm kính ngưỡng của nhiều giới Phật tử.
Suốt một đời hoằng pháp lợi sanh, Ni trưởng luôn giữ chí nguyện vững bền, vượt mọi chướng duyên, quyết đem lời Phật dạy đến tận hang cùng ngõ hẻm để thức tỉnh lòng người. Bước chân vân du hoá đạo của Ni trưởng đã in dấu khắp mọi nẻo đường của vùng duyên hải miền Trung, từ Thuận Hoá đến tận Khánh Hoà, Ninh Thuận.
Ngày 20 tháng 04 năm Nhâm Tuất nhằm ngày 11 tháng 06 năm 1982 tại Tịnh thất Hoàng Mai, Ni trưởng đã an nhiên thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi, với 38 hạ lạp.
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Một câu chuyện Đạo

Postby DIEU DUC » Wed Jun 07, 2017 12:58 pm

Cậu bé ba tuổi nhớ rỏ kiếp trước khi bị sát hại


www.youtube.com Video from : www.youtube.com
DIEU DUC
 
Posts: 9381
Images: 3020
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

PreviousNext

Return to Tản Mạn Cuộc Sống

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest