Chữ Nghĩa Làng Văn

Chữ Nghĩa Làng Văn

Postby DIEU DUC » Mon May 30, 2016 7:02 pm

Chữ Nghĩa Làng Văn


Image


Con…và cái

Chữ mòn hay nghĩa mòn. Cái nào mòn trước, cái nào mòn sau.

Chữ là cái chuyên chở nghĩa và một chữ có thể có nhiều nghĩa, tùy theo vị trí của nó trong câu nên nghĩa dễ bị mòn hơn chữ.

Chẳng hạn, chữ cái và con.

Chữ chỉ có hai, nhưng nghĩa thì nhiều lắm nên nghĩa lúc thế này, lúc thế khác.

Cũng là con, nhưng con dao, con với cái, nhỏ con, con dại cái mang, con đĩ, cỏn con.

Nhưng cũng không thiếu trường hợp cả hai đều mệnh yểu.

(Nguyễn Văn Lục – Cuộc di cư của chữ nghĩa)

Hồ Xuân Hương tân biên bản mục

Tiểu sử bà Hồ Xuân Hương trước kia vẫn mù mờ. Căn cứ vào chứng liệu mới gần đây, người ta đã xác định được năm sinh của bà Hồ Xuân Hương là 1772 và đặc biệt năm mất là 1822.

Điều đó đã được tìm thấy qua tấm bia đá khắc khá lớn của dòng họ Hồ tại Quỳnh Đôi quê hương bà ở Nghệ An.

(Trần Nhuận Minh – Tạp chí Tân Văn)


Qua tập Lưu hương ký, tiểu sử của bà đã được bạch hóa:

– Bà không phải là vợ lẽ của ông phủ Vĩnh Tường mà bà vợ kế (không phải vợ lẽ) của Quan Hiệp Trấn Trần Phúc Hiển ở Yên Quảng. Trần Phúc Hiển bị tử hình vì bị nghi là nhận hối lộ.

Cũng qua Lưu Hương Ký, bà có hai bài thơ tình chữ Nôm với Quan Hiệp Trấn. Đồng thời chuyện bà là kế thất của Trần Phúc Hiển cũng ghi trong Thực lục của nhà Nguyễn

Bà than thở: “Cán cân tạo hóa rơi đâu mất – Miệng túi càn khôn khép lại rồi”.

Bà mất năm 1822…Năm 1823 thời Minh Mạng, phủ Tam Đới của Trần Phúc Hiển mới đổi tên là phủ Vĩnh Tường.

(Trần Nhuận Minh – Tạp chí Tân Văn)

Thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh (II)

Mỗi lần có hội hè đình đám, mối lo hàng đầu của ban tổ chức là phải sắp xếp các chiếu ăn, chia phần ăn làm sao cho đúng với ngôi thứ, vai vế của hàng chức sắc.

Cái phao câu, nôm na là cái đít gà, đã từng là đối tượng của nhiều cuộc tranh chấp, sát phạt nhau. Cái danh vọng tột đỉnh của đám chức sắc là được ngồi chễm chệ giữa làng, vừa liếm vừa mút cái đít kia.

Thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh nghĩa là gì ?

Có người hiểu rằng ngon nhất là cái phao câu, ngon thứ nhì là cái đầu cánh. Người khác lại hiểu là phao câu chỉ có một miếng, đầu cánh thì có hai. Do đó phao câu được dành cho người cao nhất trong làng và hai cái đầu cánh là của người thứ nhì.

(Nguyễn Dư – Con gà cục tác lá chanh)

(Trau giồi tiếng Việt – ĐatViet.com)

Định nghĩa phê bình văn học

Nghĩa chữ Hán với “phê” là bày tỏ cho biết và “bình” là luận về một điều gì.

“Phê bình văn học” là dùng phương pháp khoa học để phân tích, phán đoán một tác phẩm với mục đích thẩm định giá trị khách quan của tác phẩm ấy.

Chính vì vậy mà người ta dùng danh từ gọi ngự sử văn học để gọi những nhà phê bình văn học chân chính.

(Phụ chú: Phan Khôi, người đầu tiên dùng chữ “ngự sử văn đàn”)

(Trần Bích San – Văn Khảo)


Phê bình II

Sau Phạm Quỳnh, sau đó mãi đến năm 1931 ta mới thấy xuất hiện thêm những bài phê bình của Thiếu Sơn Lê Sĩ quý trên Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn. Năm 1933, Thiếu Sơn cho xuất bản quyển Phê bình và cảo luận nhưng thiếu chính xác, sâu sắc.

Từ năm 1935 trở đi, ta mới thấy những bài phê bình thật sự có tính cách phê bình của Hoài Thanh, Nguyễn Bách Khoa (bút hiệu của Trương Tửu), Trần Thanh Mại, Lê Thanh, Thái Phỉ, Kiều Thanh Quế, Hải Triều, Vũ Ngọc Phan, Thạch Lam.

Trong suốt thời tiền chiến chỉ có Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan và quyển Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh là đáng kể…

(Trần Bích San – Văn Khảo)

Nét đặc biệt trong tiếng Huế



Tiếng Huế không phải chỉ đơn giản tê mô răng rứa như vẫn xuất hiện trong thơ và văn xuôi như những nét chấm phá rất dễ thương để nói về người và xứ Huế; mà nhức đầu, phức tạp, nhiêu khê, đa dạng và phong phú hơn nhiều. Tùy vào từng địa phương của Huế, cách phát âm có chỗ nặng nơi nhẹ; lúc thanh tao khi khó hiểu.

Chiều hắn cho gắt, hắn được lờn !

(Chiều nó cho lắm vào, nó làm tới).
Mệ tra rồi mệ chướng:

(Bà ấy già nên sinh tật).

Chữ chướng, người Huế cũng thường dùng để chỉ mấy đấng nhóc tì khóc nhè, bướng bỉnh hoặc các vị có lối nói, cách hành xử ngang như cua .
Ăn bụ cua cho hết đái mế:

(Ăn vú cua cho hết đái dầm).

Chữ bụ cũng dành cho người và các loài có vú khác. Bụ mạ là vú mẹ, bọp bụ là bóp .

(Nguồn ĐatViet.com)

b][Dấu chấm không đơn giản[/b]

Rắc rối là dấu chấm lưng… (…) vì nó có thể kết thúc một câu, nhưng nó có thể nằm giữa câu trong trường hợp liệt kê hoặc do chủ ý người viết muốn gây bất ngờ hay diễn tả sự ngắt quãng, sự kéo dài về âm thanh,..v..v..
Hãy so sánh mấy thí dụ sau:
– Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương… (thơ Hàn Mặc Tử)
– Cờ bạc là bác thằng…ăn trộm.
– Bước chân ra đi, nó khóc mãi…khóc mãi…

(Nguồn : e-cadao.com)

Từ điến, tự điển

Từ điển khác với Tự điển. Tự điển mỗi điều chỉ có một chữ, mà từ điển mỗi điều phải từ hai chữ sắp lên đến sáu bảy chữ, ấy là vì chữ “Từ” khác với chữ “Tự”. “Từ” nghĩa là lời, “Tự” nghĩa là chữ, hiệp nhiều chữ lại mới thành lời.

Nhưng không phải hễ thấy lời nào có nhiều chữ mà cho là “từ” hết thảy được đâu. Phải biết thế nào mới gọi là “từ ” được.

Từ (lời) là hiệp mấy tự (chữ) lại mà thành ra, để chỉ tên một sự vật hoặc một danh lý, để biểu thị một ý tưởng hoặc một tình cảm của người ta; song, tuy có nhiều chữ mà đã thành ra như một chữ, và nó có cái vẻ đặc biệt, gần gần như là một cái điển cố vậy.

Phải lấy ví dụ cho rõ hơn. Vậy như: Thiên mã thì gọi là từ được, mà tẫn mã hay dịch mã thì không gọi là từ được.

Bởi vì, đời vua Võ Đế nhà Hán có được một con ngựa bên Tây Vực hay lắm, bèn đặt tên là thiên mã, nghĩa là con ngựa của trời, thế thì thiên mã là tên đặc biệt, cho nên gọi là từ. Và chữ thiên mã ấy đáng để vào từ điển, vì sau nầy có con ngựa nào hay như con ngựa ấy thì người ta có thể dựa theo đó mà gọi nó là thiên mã được.

Còn tẫn mã là ngựa cái, dịch mã là ngựa trạm, chẳng qua lấy chữ tẫn chữ dịch ghép với chữ mã mà thôi, là phổ thông, không phải là đặc biệt, cho nên không gọi là từ được, và không đáng đem vào từ điển.

(Phan Khôi – Cái dốt của triều đình Huế)


Ngộ Không -(Sưu Tầm)
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Chữ Nghĩa Làng Văn

Postby DIEU DUC » Sat Sep 24, 2016 11:31 pm

Đĩ và Điếm

Chu Mộng Long

Nhân nói chuyện về phát ngôn của anh Nguyễn Xuân Bang: "Giáo dục Việt Nam đang là một con điếm" ̣ Anh Nguyễn Phượng chê trách về cách so sánh không chuẩn, mang định kiến về cái nghề bán trôn nuôi miệng vĩ đại của phụ nữ.

Hiển nhiên, nếu so sánh ấy xúc phạm đến thân phận của nhiều người thì phải xin lỗi. Liệu cách làm tiền của giáo dục: mở ngành, mở trường, mở chỉ tiêu và thu tiền loạn xạ bất chấp chất lượng, nhu cầu xã hội và công ăn việc làm của người học có giống cách làm tiền của gái bán thân nuôi miệng không?

Bây giờ, nếu tra cứu kĩ về ngôn từ, tất cả chúng ta đang có một sự nhầm lẫn rất lâu và rất lớn, vì đã đồng nhất 2 từ khác nhau: ĐĨ và ĐIẾM.

1) ĐĨ là từ thuần Nôm.
Nghĩa gốc là cái tam giác của mẹ chúng ta. Sau theo phép hoán dụ, thường được gọi cho người con gái. Đứa bé gái trong gia đình nông dân được gọi là Cái Đĩ, và người mẹ nó được gọi là Mẹ Đĩ. (Giống như con trai thì được gọi là Thằng Cu, và ông bố nó được gọi là Bố Cu)

Ở miền Trung, nhà lá mái có cái ô tam giác ở đầu 2 chái được gọi là KHU ĐĨ.

(Nhà lá mái với cái khu đĩ)
Image



Đĩ trung tính, không hề mang nghĩa xấu, cũng không mang nghĩa mỉa mai, khinh miệt. Chẳng nhẽ dân gian phản cội nguồn đến mức khinh bỉ cái sinh ra mình và đang ở trên đầu mình? Thậm chí, trong dân gian, có khi Đĩ còn được dùng với nghĩa Đẹp: người con gái biết làm đẹp gọi là Gái đĩ, đôi mắt đa tình gọi là đôi mắt đĩ. Trường hợp này ĐĨ đồng nghĩa với ĐẸP. Người quê Quảng Trị nói: O ni mần đĩ chi tề là khen cái cô này đẹp dữ hè!

Do từ Đĩ nghĩa gốc là cái tam giác nên những cô gái dùng cái tam giác của mình nuôi thân gọi là LÀM ĐĨ, tức nghề mãi dâm. Nghề này có từ thời thượng cổ, có thể xếp vào nghề cổ truyền, có làng nghề hẳn hoi. Theo Engels, nghề này xuất hiện từ thời kì phụ quyền, khi đàn ông xem đàn bà chỉ là đối tượng tình dục.

Nếu đối chiếu với từ Hán, thì Gái ĐĨ tương đương với KĨ NỮ. Kĩ nữ là người con gái tài sắc sống nhờ chuyện trăng hoa. KĨ VIỆN xuất hiện khi nghề đĩ và làng nghề đĩ được đô thị hóa và được đào tạo bài bản “vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề” (Nguyễn Du), giống như HỌC VIỆN bây giờ vậy, he he. Nước Tề cường thịnh và làm bá chủ thời Đông Chu là nhờ kế sách của Quản Trọng biến nghề này thành ngành kinh tế mũi nhọn. Xét đến cùng, Đĩ hay Kĩ nữ không phải là ĐIẾM. Vì nó là Cái Đẹp, Cái của Quý, Cái Yêu: Chúa giấu vua yêu một cái này! (Hồ Xuân Hương).

2) ĐIẾM là từ gốc Hán rành rành. ĐIẾM (玷) nghĩa gốc là ngọc có tì, vết.

Phàm cái gì khuyết điểm đều gọi là Điếm. Sau Điếm thường dùng mang nghĩa là lừa đảo. ĐIẾM NHỤC ( 玷辱): làm điều ô bẩn thanh danh.

Do định kiến giáo điều phong kiến, từ ngữ hoàn toàn bị lệch lạc trong quá trình sử dụng, nên mới có chuyện đồng nhất Đĩ và Điếm.

Vậy ra anh Nguyễn Xuân Bang dùng từ Điếm rất chuẩn: cách làm tiền của giáo dục hiện nay làm ô bẩn thanh danh nghề giáo, không hề xúc phạm ai ạ!

Từ nay, khi đã hiểu rõ ngôn từ, mong mọi người dùng cho chuẩn, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ạ.
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Chữ Nghĩa Làng Văn

Postby DIEU DUC » Tue Jan 31, 2017 1:54 am

Chữ với nghĩa

Hồi nhỏ tôi chỉ được học văn phạm để viết tiếng Pháp cho đúng. Từ Tiểu Học lên Trung Học chưa bao giờ tôi được học một giờ văn phạm tiếng Việt. Nghĩ lại giật mình không hiểu sao tôi viết được tiếng Việt. Chắc được học văn phạm lúc còn nằm trong bụng mẹ! Nhưng rồi mọi việc cũng qua. Sau này, khi lên Đại Học, tình cờ tôi được đọc một cuốn văn phạm tiếng Việt. Tôi thấy kỳ kỳ, sách đọc không xuôi. Tôi có cảm tưởng sách viết cho người ngoại quốc học tiếng Việt.

Không phải là nhà ngôn ngữ học, tôi không thể phân tích được cái hay, cái thú vị của tiếng Việt nhưng tôi thấy tiếng Việt của ta vui lắm, lạ lắm nên viết ra đây mấy điều nhận xét để thỉnh ý các bạn'

Tôi thích ca dao Việt Nam. Ý, lời giản dị mà hay và nhiều câu làm cho người đọc tự cười một mình thích thú. Tính tôi ham vui nên hay “thấy” những nghĩa vui của ca dao. Người Việt ai cũng thuộc lòng mấy câu:

Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa lông mày, chết cá ao anh!

Anh chàng này tính toán kỹ thật. Sợ mất của mà không được gì nên đợi lấy được nàng mới chịu xây hồ. Lấy được nàng rồi, xây làm chi nữa! Anh lại khoác lác, làm sao xây dọc xây ngang mà ra hồ bán nguyệt được. Xây dọc xây ngang thì anh chỉ có hồ tam, tứ, ngũ giác anh ơi! Đúng là láo thiên, láo địa rồi. Hồ chỉ bằng cái ao. Nước ao tù không thể sạch được, lại còn nuôi thêm cá. Đúng là anh cù lần lữa. Anh sợ nàng rửa đôi lông mày đẹp với nước bẩn thì sẽ rụng lông mày, cá anh nuốt lông vào bụng sẽ chết đứng nên khuyến cáo cô nàng đừng rửa lông mày. Các cô nghe những lời đường mật của anh chàng hà tiện này có xuôi tai không? Tôi xin sửa lại vài chữ cho sát với “sự thật” hơn:

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng.
Ước gì anh lấy được nàng,
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây cong
Xây hồ bán nguyệt cho Hồng rửa chân.
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày mà trụi hết lông.

Chắc các bạn đồng ý “không lông” thì xui lắm nên tôi khuyến cáo trước để khỏi bị thưa kiện lôi thôi sau này. Các cô có đồng ý tôi thật thà hơn, nói có sách mách có chứng hơn cái ông ấm ớ đòi xây hồ bán nguyệt với hàng dọc hàng ngang kia không? Xét cho cùng ông kia có ấm ớ thật đấy nhưng mấy câu tán gái của ông nghe mùi hơn, thơ mộng hơn mấy câu tả chân của tôi nhiều. Văn chương chữ nghĩa của tôi không bao nhiêu, xin chào thua.

Các bạn có bao giờ tự hỏi nhân vật nào, nam hay nữ, được nói tới trong hai câu: “Thương nhau cổi áo cho nhau. Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.” không? Nếu là con trai nói dối mẹ thì còn có thể chấp nhận được. Nhưng xét cho cùng, chuyện mất áo là một chuyện khó tin! Nếu qua cầu khỉ ở quê nhà thì gió thổi bay áo, thế nào cũng tìm lại được. Phải qua một cái cầu khá dài như cầu Tràng Tiền, dài sáu vài, mười hai nhịp, sông rộng. Áo bay thì đành mất áo thôi. Nhưng thử hỏi có anh chàng Huế nào, giữa thanh thiên bạch nhật, dám trần trùng trục đi dạo phố phường? Anh chàng trong ca dao này nhất định không phải cựu học sinh Quốc Học. Nếu là người đất Thần Kinh, sẽ nghĩ ra một mưu chước khác, phải tặng người yêu một kỷ vật khác. Nhưng nếu là con gái nói dối mẹ mất áo giưã đường thì không ổn chút nào. Mẹ cô sẽ đau lòng lắm vì nghĩ con mình điên rồi!

Tán hưu tán vượn cho vui vậy thôi chứ văn chương bình dân của ta rất phong phú, súc tích. Lời văn giản dị mà bao hàm nhiều nghĩa. Ta có thể mượn những câu ca dao để diễn tả nỗi lòng, tâm sự, tình huống riêng. Hai câu ca dao trên tả tình yêu nam nữ nhưng cũng có thể là một câu đố thách thức người nghe đoán tên của một con vật rất thú vị. Đố các bạn đoán được là con vật gì thì tôi đây bái phục (xem lời giải ở cuối bài).

Vì là độc âm (monosyllabic) nên tiếng Việt có thể nói lái được dễ dàng, như “thương nhau” thành “thau nhương” và có rất nhiều cách nói lái mà chắc người Huế chiếm giải về nghệ thuật nói lái. Tôi đã từng nghe hai đứa trẻ nói chuyện với nhau mà nói rất mau và tôi không hiểu gì cả, cứ tưởng chúng nói tiếng Lào, tiếng Mọi hóa ra là chúng nói lái! Chúng ta rất may mắn là từ Bắc vào Nam, chúng ta chỉ có một thứ tiếng nhưng cũng có nhiều từ có nghĩa khác nhau tuy từng vùng. Thường thì người Trung và người Nam dùng nhiều từ giống nhau. Có từ có nghĩa rất tục ở ngoài Bắc nhưng ở miền Trung và miền Nam thì cũng từ ấy mà nghĩa khác. Nhà tôi kể có lần trong giờ Việt văn của thầy Mục, một anh Quãng Nam hỏi nghĩa một chữ trong bài thơ, thầy đỏ mặt đi vội lên bàn thầy trên bục mà không trả lời. Về sau mới hiểu ra là người Bắc tránh không dùng từ đó và thầy tưởng học trò hỏi nghịch.

Các bạn có để ý cách ghép từ của tiếng Việt không? Nếu một tĩnh từ được lập lại thì thì nghĩa sẽ khác đi một chút. Thí dụ “xanh xanh” thì không xanh lắm, “đỏ đỏ” thì không đỏ lắm, “gầy gầy” thì không gầy lắm, “đẹp đẹp” thì không hẳn là đẹp vân vân. Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến một câu thơ có mấy chữ, “Nghe trời lành lạnh, nghe ta buồn buồn", nghĩa là trời không lạnh lắm, mà người nớ cũng chỉ buồn man mác thôi. Động từ cũng đổi nghĩa nếu được ghép lại như “tiếc tiếc” thì không tiếc lắm, “thích thích” thì không thich lắm. Chữ “đi” được dùng như trạng từ để chỉ một thay đổi không được tốt như trong cụm từ “nghèo đi”, “xấu đi”, gầy đi – đối với người Mỹ gầy đi là điều đáng mừng. để diễn tả một thay đổi tốt thì người ta dùng chữ “ra”. Người Việt ai cũng muốn đẹp ra, giàu ra và mập ra (ngày xưa!). Chữ “đi” dùng với nhiều động từ khác thì chỉ một lệnh lệnh (a command) như “ăn đi”, “đi đi”, “hát đi” v.v… Chữ “đi” và “ra” có lúc đồng nghĩa như “đi chỗ khác chơi” hay “ra chỗ khác chơi”, hay có thể dùng cả hai chữ “đi ra chỗ khác chơi.”

Cũng cùng một câu nói, nếu thay đổi vị trí của chữ thì nghĩa sẽ khác hẳn như câu “mời bác qua ăn cơm” sẽ khác nghĩa với câu “ăn cơm, qua mời bác”, khác với câu “bác mời qua ăn cơm” hay câu “qua mời bác ăn cơm.” Người Nam thường dùng chữ “qua” để chỉ mình tức “tôi” thì câu “qua mời bác ăn cơm” phải hiểu là “tôi mời bác…”

Một chữ có nhiều nghĩa là đặc điểm của nhiều thứ tiếng. Tiếng Việt cũng có nhiều như vậy. Tôi nhớ một chuyện tếu trong phòng the của hai vợ chồng nọ. Người chồng hỏi vợ, “Em ra chưa?”. Người vợ, “Dạ chưa. Còn anh?” Người chồng vừa nói: “Anh cũng chưa ra” thì bỗng có tiếng trẻ con la lớn, “Ba me chưa ra thì con ra.” Và thằng con nhỏ chui ra từ gầm giường và chạy tọt ra khỏi phòng.

Tiếng Việt rất phong phú, cả từ lẫn âm thanh. Với sáu dấu: sắc, huyền, không, hỏi, ngã, nặng, tiếng Việt nghe líu lo như chim hót đối với tai người ngoại quốc. Giọng Nam, giọng Bắc líu lo hơn giọng Huế vì khi trầm khi bổng, khi lên cao khi xuống thấp rất rõ ràng, còn giọng Huế thì cứ trầm trầm, trọ trẹ khó nghe lắm (đối với người không ở Huế). Có một người bạn Bắc nói rằng lần đầu tiên anh nghe một cô sinh viên Huế (ở Đại Học Hà Nội) nói tiếng Huế, anh mê lắm nhưng khi vào Huế sau 1954, anh nghe mấy bà ở chợ Đông Ba chưởi nhau, anh sợ quá!

Tôi hy vọng các bạn chịu khó dùng tiếng Việt với con cháu để chúng không quên tiếng mẹ đẻ, để chúng có dịp đọc ca dao tục ngữ và thưởng thức một gia tài văn hóa phong phú và đa dạng của chúng ta. Đừng cười con cái khi chúng nói tiếng Việt sai. Tôi xin nghiêng mình bái phục những cha mẹ cố dạy cho con tiếng Việt dù chúng sinh đẻ, lớn lên ở xã hội này. Một em bé 6 tuổi trả lời điện thoại: “Mẹ đi con chó rồi” (she walks the dog). Em chỉ hình người bác và giới thiệu, “Đây là thằng bác.” (This is my uncle). Người lớn nghe em nói được tiếng Việt là vui rồi. Dần dà tiếng Việt của em sẽ khá và nếu em biết viết nữa thì nhất hai đấng cha mẹ này rồi.

Có bạn nào chỉnh giùm bài thơ “trên trời có đám mây xanh” cho sát nghĩa mà hay hơn mấy câu tả chân của tôi thì tôi xin bái làm thầy. Có bạn nào đoán được là con vật gì với hai câu: “Thương nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.” thì tôi cũng xin bái phục. Xin thưa lời giải là con lừa mẹ (the mother donkey).

- Viễn Lăng Nguyễn văn Liễn -
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Chữ Nghĩa Làng Văn

Postby DIEU DUC » Wed Aug 16, 2017 12:33 am

" Vào vườn hái quả cau xanh..."

Image


Từ cổ chí kim, tình yêu vẫn là đề tài muôn thuở trong thơ, văn, nhạc, họa. Kho tàng ca dao Việt cũng chứng tỏ sự phong phú của những cung bậc tình yêu còn tồn tại theo thời gian. Khi tâm hồn rung động trước đối tượng - để che giấu cảm xúc bối rối, e dè, trăn trở, đắn đo, họ mượn ca dao và khơi gợi những hình ảnh gần gũi quen thuộc trong đời sống để thổ lộ tâm tình:
- Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc như đèn mới khêu
Hoặc giả, quả cau xanh lá trầu vàng cũng là cách nói bóng gíó thể hiện tình cảm lứa đôi:
- Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu
Trầu cau không chỉ mở đầu câu chuyện mà còn như nhắc nhở lời khuyên của mẹ đã dặn dò, khiến chàng phải buông lời trách cứ:
- Đi đâu cho đổ mồ hôi
Chiếu trãi không ngồi, trầu để không ăn
Có lẻ người thiếu nữ thờì xa xưa ấy cỉ biết buông lời nhỏ nhẹ:
- Thưa rằng bác mẹ tôi răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu người
Lể giáo và định kiến xã hội thường cũng là rào cản khiến chàng trai chùn chân trong bước đầu:
- Thấy em anh cũng muốn chào
Sợ lòng bác mẹ càng cao lá dài
Tuy vậy cũng có trường hợp "tiếng sét ái tình" làm cho đối tượng cảm thấy mạnh mẽ hơn, tự tin hơn. Tuy không
bộc bạch sổ sàng nhưng chàng cũng chân thành nói lên lời yêu thương mộc mạc:
- Thấy em là gái má đào
Lòng anh cũng muốn ra vào kết duyên
Khen đôi má đào xinh xắn, chàng đã bạo dạn hơn nên không ngại ngần van vĩ:
- Hởi cô gành nước quang mây
Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng
Dù cây ngô đồng và một gáo nước chỉ là cái cớ nhưng điều đó chứng tỏ sự thiết tha mong nàng đáp trả bằng nụ cười ý nhị. Khi đã quen,
cái đẹp trong tình yêu ngày mỗi thơ mộng hơn. Nét trữ tình ấy là những hình ảnh quen thuộc trong ca dao:
- Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh
Thế giới màu hồng trong tình yêu càng thăng hoa mổi khi được nhìn, được chiêm ngưỡng dung nhan đóa hoa hàm tiếu:
- Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
Phải chăng khen là một qui luật, hay chỉ là... sự mù quáng trong tình yêu nam nữ:
- Hoa thơm xuống đất cũng thơm
Em giòn, rách áo đói cơm cũng giòn
Đã quen , đã cảm nhưng chàng vẫn ướm hỏi khẻ khàn:
- Thân em như tấm lụa đào
Còn nguyên hay đã xé vuông nào cho ai
Cách nói khôn khéo ấy ẩn chứa một khát vọng:
- Ước sao ăn ở một nhà
Ra vào đụng chạm kẻo mà nhớ thương
Nếp sống, nếp nghĩ ấy còn thể hiện triết lý sống tri túc cuả người xưa:
- Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ non

Hạnh phúc biết bao nếu ước mơ của chàng thành hiện thực, có hình ảnh đẹp của đôi tình nhân dưới ánh trăng vàng:
- Sáng trăng sáng cả bờ sông
Ta được cô ấy ta bồng đi chơi
Ta bồng ta tếch lên trời
Hỏi ông nguyệt lão tốt đôi chăng nào
Lời tỏ tình càng mảnh liệt, nồng đượm hơn, cháy bỏng hơn bằng những điều ước tháp tình yêu thành chiếc kính vạn hoa muôn sắc màu:
- Ước gì anh hóa ra chăn
Để cho em đắp em lăn cùng gường
Ước gì anh hóa ra gương
Để cho em cứ ngày thường em soi
Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng

Bằng trí tưởng tượng phong phú, tình yêu qua ca dao của người xưa mộc mạc mà chân thành, đậm sâu mà bình dị - như cuộc sống thuần hậu chân chất gắn liền với bờ tre, ngọn lúa, tiếng sáo, câu hò... Trí sáng tạo mang chút dí dỏm ấy là những cung bậc tình yêu êm đềm đầy ý vị mãi ngân vang trong kho tàng ca dao.

_ DĐ _
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Chữ Nghĩa Làng Văn

Postby DIEU DUC » Sun Aug 20, 2017 12:41 am

Yêu nhau…

Yêu nhau cởi áo ý à cho nhau….

Về nhà cha mẹ hỏi ý a …………..

Qua cầu qua cầu …ý a qua cầu gió bay?

Trước đây 50 năm, tôi được hiểu bài dân ca này một cách hết sức cù lần [cả quỷnh] như sau đây: Là có một đôi trai gái ở nhà quê ở tuổi dậy thì và thường hẹn hò nhau ở địa điểm nào đó để tâm tình. Khi chia tay cô nàng cởi áo trao cho chàng trai mang về nhà, lâu lâu mang áo ra ngửi một cái để tưởng nhớ mùi hương cho nó đỡ nhớ và cũng chỉ nghĩ được có như thế? và anh chàng con trai bắt chước y vua Dực Tôn Tự Đức :

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi

Nhưng bây giờ ở vào tuổi hơn sáu mươi, mọi chuyện theo thời gian mà thay đổi, từ từ được bật mí hết sức tình cờ và tôi được giác ngộ, nếu không thì mang cái hiểu biết vừa nông cạn xuống lỗ. Sang Mỹ, tôi làm việc ở một hãng không được nghe nhạc. Bỗng một ngày, có một cô mới vào làm, ỏn ẻn: “Yêu nhau cởi áo ý à cho nhau? về nhà cha mẹ hỏi ý a qua cầu qua cầu…gió bay…..”. Cô này trẻ và dễ coi nên được nhiều anh chú ý hơn? Nên không được các cô khác ưa lắm, thế rồi một hôm cô ta hát xong, một cô khác hát tiếp theo: “Yêu nhau ý a cởi…quần cho nhau?

Câu này như một cái dùi trống, đánh một cái thục mạng vào đầu tôi? Tôi đã hiểu… Xin thưa đây là chính bản thân tôi hiếu, chứ không phải người khác hiểu và cũng không phải là ai ai cũng hiểu như vậy. Thế là bài dân ca nghe từ trước đây 50 năm từ hồi xửa hồi xưa được…hiểu trong cái đầu của tôi như sau:

“…Là trong một đêm trăng thanh gió mát, chàng với nàng hẹn hò nhau, ở một nơi thanh vắng nào đó không có người thứ ba lai vãng, “yêu nhau cởi áo ý à cho nhau” hành động cởi áo này là của đấng nam nhi sử xự với khách má hồng. Chứ không phải khách má hồng cởi áo, còn câu hát tiếp theo “về nhà cha mẹ hỏi qua cầu gió bay” chỉ làm cho bài hát thêm phần…tối nghĩa và thơ mộng thế thôi. Chứ thực tế chả có anh chàng cù lần nào mà mang áo của nàng về nhà mà làm cái gì?…”

Còn yêu nhau ý a “cởi quần cho nhau” là rõ ý hiện thực quá rồi? Bổ sung cho câu đầu cởi áo. Bài hát vừa ý nhị vừa có duyên nhưng rất tiếc mãi đến năm hơn sáu chục tuổi mới hiểu nhờ cô gái làm cùng chỗ…

(Chu Vương Miện – Yêu nhau cởi áo cho nhau)


Giai thoại làng văn

Khi Lê Xuyên đang viết truyện dài Chú Tư Cầu. Độc giả thích thú theo dõi tình tiết diễn biến câu chuyện mỗi ngày. Chuyện hấp dẫn đến mức trong quán cà phê người ta cũng bàn tán, đoán già đoán non tình huống sắp xảy ra của một cặp tình nam nữ nhà quê. Chẳng biết cái gã nông dân quê mùa chất phác có “làm thịt” được con nhỏ kia không? Lê Xuyên cũng ra ngồi quán cà phê, lắng nghe người ta bàn tán về cái truyện của mình. Nếu người ta tiên đoán tình huống sắp tới sẽ xảy ra thế này, thì ông sẽ lái câu chuyện sang hướng khác. Cứ thế, ông gây cho độc giả nhiều lý thú bất ngờ. Ông lại có tài viết đối thoại. Hai người nói qua nói lại một cách rất ỡm ờ, có lúc tưởng xáp lại gần làm cái chuyện truyền giống tự nhiên của loài người. Nhưng không, họ cảm thấy bẽn lẽn, và tiếp tục ỡm ờ nữa. Ông kéo dài cuộc đối thoại đến mấy chục trang. Vào thời Lê Xuyên, viết truyện dài cho nhật báo, tính dòng ăn tiền. Càng viết đối thoại, càng xuống dòng nhiều. Có khi mỗi dòng chỉ vài chữ. Và dĩ nhiên, nhiều dòng thì nhiều tiền.

Lê Xuyên cũng mất rồi. Vài tờ báo hải ngoại đăng lại bài của ông như một niềm… hoài cổ

(Lâm Chương – Tán gẫu trong quán cà phê)


Ngôn sử

Khi hắn vừa tốt nghiệp cử nhân văn khoa thì miền Nam thay đổi chế độ, hắn mở một quán cà phê nhỏ để sống qua ngày. Thì giờ rảnh rỗi hắn nghiên cứu về một môn học mà hắn gọi là môn “ngôn sử”.
Hắn nói ngôn sử tiếng Pháp philologie, tôi chẳng hiểu gì cả. Hắn giải thích đó là môn học nghiên cứu lịch sử, cấu trúc và cách tạo thành của ngôn ngữ. Tôi vẫn mù tịt. Hắn tặng vợ tôi một cái túi xách tay Louis Vuiton và nói đó là là một ti mố. Hắn giải thích “mố” cũng là tiếng mới xuất hiện, dùng thay cho “thời trang”, hay “mốt” trước đây.
Hắn cho tôi một sơ-mi lụa và nói đó là lụa thực chứ không phải lụa đểu.
Tôi hỏi lụa đểu là gì thì hắn phì cười :
– Mày lỗi thời quá rồi. Bây giờ trong nước người ta không nói là “giả” nữa mà nói là “đểu”. Hàng đểu, bằng đểu, rượu đểu, thuốc đểu.

Tôi, sực nhớ ra hắn là một nhà ngôn sử, bèn hỏi hắn :
– Thế mầy nghĩ gì về những từ mới này ?
Hắn bỗng trở thành nghiêm trang, trầm mặc một lúc rồi nói :
– Ngôn ngữ của dân tộc nó cũng gắn liền với lịch sử. Cái gì thường trực và lâu dài cũng trở thành ám ảnh rồi đi vào ngôn ngữ.

Hắn dừng lại một lúc rồi nói tiếp :
– Nhân loại tiến triển qua các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt. Chúng ta cũng có thời kỳ đồ đểu.

(Lượm lặt của thiên hạ – Web: bacdau.wordpress.com)


Chuyện chữ nghĩa

Trong phần “Giải & Đáp” của Thuần Thảo có câu hỏi: Chị Thảo là người “văn chương quán tuyệt, nhưng để mua vui với em, xin chị trả lời câu hỏi của em như sau:

“…Ở Việt Nam nếu mấy bà mấy cô không rậm rạp thì người Bắc, người Nam gọi là vô mao. Riêng ở xứ Huế, nếu mà cô nào, mụ nào “vô mao” thì người ta gọi là “đoi”. Vậy chữ “đoi” này sao lại dành riêng cho đàn bà xứ Huế? Phát xuất từ đâu?

Trả lời: Vì không quán tuyệt, nên chị Thảo phải tra tự điển về chữ “đoi”.

Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức xuất bản viết: đoi là “trôn”, trôn là đáy, là đít hay chỗ cuối cùng của cơ thể. Nếu có ai biết hơn, xin cho Thuần Thảo biết với. Vì học thêm tiếng địa phương cũng là điều tốt.

(Thuần Thảo – báo Văn Nghệ Tiền Phong)
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Chữ Nghĩa Làng Văn

Postby DIEU DUC » Sun Sep 10, 2017 10:49 pm

CỤC và NHA

Image

Bộ đội về hưu Nguyễn Văn Bảy


anh Đỗ Kim Phụng wrote: 1)- Nhìn tấm ảnh mấy "CỤ GIÀ bộ đội" đeo lon & mề-đai (huy chương) anh thấy sao mà thảm thương quá . Trừ ba nước CS , trên thế giới văn-minh này tất cả các sĩ quan quân đội từ cấp tướng trở xuống khi giải ngũ KHÔNG BAO GIỜ còn được đeo cấp bậc & huy chương khi lúc còn tại ngũ .

1.1. Anh P. còn nhớ mãi cái tin này trên nhật báo VNCH năm 1974 : Vị tướng lãnh già nhất của quân đội VNCH đã về hưu : trung tướng Nguyễn Văn Là, sinh năm 1919, Phụ tá Tổng Tham Mưu trưởng QLVNCH kiêm Tư lệnh Địa phương quân & Nghĩa quân .

1.2. Năm 1975 : Ông Trần Văn Đôn, cựu trung tướng QLVNCH, vừa được TT Thiệu bổ nhiêm vào chức Tổng trưởng Bộ Quốc Phòng. Cố nhiên, ông Đôn mặc áo vét + cà-vạt chứ không có đeo lon nữa, vì ông đã bị tướng Nguyễn Khánh cho về hưu năm 1964 cùng với các trung tướng : Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân và Tôn Thất Đính rồi !

1.3 Năm 1971 : Ông Huỳnh Văn Cao, nghị sĩ Thượng Viện, cựu thiếu tướng QLVNCH nguyên tư lệnh Quân khu I (1966), nguyên tư lệnh Quân đoàn IV & Vùng IV chiến thuật (1962) , được Thượng Viện tín nhiệm bầu vào chức vụ Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Thượng Viện.
v.v..


2)- Về các danh từ mà VN.XHCN bây giờ sử dụng trong các tổ chức công quyền làm cho nhân dân không tài nào biết đâu là cơ quan quân đội và đâu là cơ quan hành chánh .

2.1. Bây giờ từ hành chánh đến quân đội đều sử dụng tự-ngữ : CỤC, TỔNG CỤC . Vài ví dụ : Cục Thuế TP Cần Thơ; Tổng Cục Thuế thuộc hành chánh : hoặc Cục Công Binh; Tổng Cục Hậu Cần thuộc quân đội. Vân vân và v.v..

2.2 Trong khi thời VNCH thì : Cục &Tổng Cục dành cho quân đội, còn Nha và Tổng Nha dành cho hành chánh . Vài ví dụ : Nha Thuế Gián thu, Nha Thuế Trực thu; Tổng Nha Thuế Vụ , (thuộc Bộ Tài Chánh VNCH) hay Tổng Nha Thanh Quân Phí (thuộc Bộ Quốc Phòng), Nha Động viên (thuộc Bộ Quốc Phòng) v.v..; hoặc : Cục Công Binh, Tổng Cục Tiếp Vận QLVNCH cho quân đội v.v.. . VD : Y sĩ Chuẩn tướng Nguyễn Hà Thanh, Cục trưởng Cục Quân Y (thuộc Tổng Cục Tiếp Vận) QLVNCH.

2.3 . Dưới Nha là SỞ (Bây giờ VN.XHCN là VỤ, Vụ trưởng, Vụ Phó v.v..) , và vị đứng đầu gọi là Chánh Sự Vụ; ví dụ : Sở Hối Đoái (bây giờ gọi là Kiều hối) : Ông Huỳnh Văn Lang, Chánh Sự Vụ Sở Hối đoái ; không bao giờ có Phó Chánh Sự Vụ . Thời VNCH không phải cơ quan hành chánh nào cũng có cấp Phó đâu; nếu có chỉ là một Phó thôi; chứ không phải như bây giờ 4 hay 5, 6 ông cấp Phó !

Còn nhiều lắm. anh tạm dừng nhé . Có dịp anh Phụng viết cho mấy em , mấy cháu - gọi là HẬU DUỆ - để biết và có cái nhìn khách quan về lịch sử .

CHỮ ÍT TÌNH NHIỀU
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Chữ Nghĩa Làng Văn

Postby DIEU DUC » Mon Sep 25, 2017 10:14 am

Chuyện "tám" của người Sài Gòn bên tách cà phê


Người Sài Gòn có thú vui uống cà phê ngoài phố, cà phê “quán cóc”, cà phê hẻm và “tám” đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, ví dụ như là chuyện chữ nghĩa “rắc rối ghê” lúc nhâm nhi ly cà phê sữa đá thơm lừng.

Hãy nghe nhà thơ Lê Minh Quốc tám về sự phong phú đa dạng và đầy thú vị của tiếng Việt, đây có thể là một trong những đề tài thường xuất hiện trong các cuộc chuyện trò (và đôi khi tranh luận bất tận) bên ly cà phê sữa đá của người Sài Gòn cũng như người di cư từ miền bắc, miền trung, miền tây… đến Sài Gòn mưu sinh, lập nghiệp.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc:

Con trâu có lông màu đen, đích thị gọi “trâu đen”. Đố ai dám cãi. Tương tự, con ngựa lông đen gọi “ngựa đen”? Không, phải gọi là “ngựa ô”. Vậy “mèo đen” cũng gọi “mèo ô” Không, gọi “mèo mun”.

Gà đen cũng được gọi “gà mun” chăng? Không, gà đen được gọi “gà ô”, vậy đũa đen được gọi “đũa ô”? Không, người ta gọi “đũa mun”! Thế chó đen được gọi là “chó ô”? Không, người ta gọi “chó mực”.


Vậy ngựa trắng gọi là gì? Xin thưa, người ta gọi là “ngựa bạch”! Thế tóc trắng gọi là “tóc bạch” chăng? Không, người ta gọi là “tóc bạc”!

Mà này, tuy gọi “gà ô” nhằm chỉ con gà lông đen, nhưng nếu cần, người ta lại… “gà đen” một cách tỉnh rụi: “Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua/ Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy”!

Ai cũng thừa biết tỏng “gà trắng” còn được gọi “gà nhạn”. Vậy trâu trắng được gọi là “trâu nhạn”? Không, người ta gọi là “trâu cò”. Dù vậy, có lúc trâu trắng không được gọi “trâu cò”, lại gọi… “trâu trắng”. Ai lại không từng nghe câu:“Trâu trắng đi đâu mất mùa đến đấy”.

Image

Người Sài Gòn có thú vui uống cà phê lề đường và trò chuyện. Ảnh tư liệu của tạp chí Life.


Hồi nhỏ, tôi sống ở Đà Nẵng, mẹ tôi có nuôi con chó lông vàng, nó khôn ngoan không kém gì con Vàng của Lão Hạc, nhưng bà con quê tôi lại gọi “con phèn”.

Những người sành nuôi chó đều biết đến câu: “Nhất mực, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm” là chỉ các giống chó khôn ngoan, lanh lợi. Chó đốm còn gọi “con vá, con vện”! Hạng người ba bứa, đá cá lăn dưa chuyên đánh bã, bắt trộm chó bị gọi “cẩu tặc”.

Tuy nhiên, chưa hề nghe ai rủ nhau ăn “thịt cẩu”, ít ra cũng phải gọi đúng điệu nghệ của dân bợm nhậu thứ thiệt là “cầy tơ”. Có câu ca dao trứ danh: “Đi tu, Phật bắt ăn chay/ Thịt chó ăn được, thịt cầy thì kiêng” (?)

Lại nghe câu “Chó ngáp phải ruồi” là nhằm chỉ kẻ gặp thời mà leo lên, leo cao như “Chó nhảy bàn độc”, chứ chẳng có tài cán gì ráo. Những kẻ ấy, lúc nào cũng hợm hĩnh, một tấc đến trời, nói năng phách lối nào khác gì “Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi”, cũng tựa như “Chuột chù lại có xạ hương”. Cách so sánh ấy, cực kỳ ấn tượng và dễ nhớ.

“Chó nào chó sủa lỗ không/ chẳng thằng kẻ trộm cũng ông ăn mày”, thế nhưng, có lúc người ta không gọi chó sủa mà thay bằng… “chó cắn”! Đọc lại truyện ngắn trước năm 1945, thấy rất rõ điều đó, chẳng hạn Nam Cao viết về Chí Phèo: “Đáp lại hắn, chỉ có lũ chó cắn xao lên trong xóm”. Thế nhưng khi nghe“Chó dại cắn càn”, “Chó cắn áo rách” thì không phải sủa mà nó… cắn thiệt!

Có loại chó không biết cắn, biết sủa là “Chó cỏ rồng đất” – nhằm chỉ loại bù nhìn vô dụng. Khi nghe hai người đối đáp: “Quê của cậu thế nào? Ruộng vườn bát ngát chó chạy cong đuôi, cò bay thẳng cánhchứ gì?”. “Không hề, quê mình chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Đó là cách nói nhằm chỉ vùng đất cằn khô, khó bề làm ăn, luôn đói kém.


Đã nói đến con chó, loài vật trung thành, giữ nhà canh trộm ắt không thể quên con vật chí thân của nó là… con mèo. Từng nghe nói đến câu: “Mèo già hóa cáo”, có thật vậy không?

Không, là ám chỉ những ai nhiều kinh nghiệm, lọc lõi ngày càng trở nên quỷ quyệt, ranh mãnh, láu cá. Nếu “Chó ngáp phải ruồi”, mèo cũng chẳng thua kém gì “Mèo mù vớ cá rán”, cũng nhằm chỉ những ai may mắn một cách bất ngờ, chứ không phải do có tài cán xuất sắc.

Như ta đã biết, mèo đen gọi “mèo mun”, vậy cứ nhìn lông màu trắng xám tro, ta gọi “mèo trắng” chăng? Không, gọi “mèo mướp”. Dân mê đọc truyện kiếm hiệp gọi bằng cái tên “oách xà lách” là “bạch miêu”! Nói thế hoàn toàn không phải nói đùa, bằng chứng có câu ca dao: “Con là trai gái trong nhà/ phải như mãnh hổ và là bạch miêu”.

Còn con mèo lông vừa đốm đen, vàng, trắng gọi là mèo gì? Gọi “mèo tam thể”, nghe cứ như… thơ!

Đôi lúc không muốn gọi con mèo là… con mèo, vậy gọi bằng cái tên gì cho thanh nhã hơn? Ắt sẽ gọi “mỉu/miu/miêu”, chà, nghe cái âm “iu” ấy mới đáng yêu làm sao, đúng không?
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Chữ Nghĩa Làng Văn

Postby DIEU DUC » Wed Oct 11, 2017 11:58 pm

Tổ quốc. Liệt sĩ . Quốc Gia. Đồng Bào . Tổ Quốc Ghi Ơn

TỔ QUỐC

Ngay hồi còn đi học, anh Ph. đã biết đến Đài chiến sĩ trận vong trong khuôn viên trước Bệnh Viện Phan Rang. 4 chữ nằm chạy từ trên xuống khắc trên đài : TỔ QUỐC GHI ƠN.

Trong khi đó huân chương cao quí nhất trong quân đội là Bảo quốc Huân chương chia ra 5 loại có 4 chữ chạy vòng tròn : TỔ QUỐC BIẾT ƠN . Cao nhất là đệ nhất đẳng bảo quốc huân chương. Chỉ có đệ I, đệ II và đệ III BQHC mới đeo vào cổ, còn hai loại kia chỉ đeo ở ngực .

VNCH (1954-1975) người duy nhất được ân thưởng đệ I đẳng BQHC là cố thống tướng Lê Văn Tỵ , nguyên Tổng tham muu trưởng Quân lực VNCH năm 1964 do trung tướng Nguyễn Khánh, lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách Mạng , Quốc trưởng kiêm Thủ tướng sau cuộc chỉnh lý tháng 2/1964 lật đổ Hội đồng Quân nhân Cách Mạng của trung tướng Dương Văn Minh . (Anh gạch dưới hai tự-ngữ ĐỘI và NHÂN).

Tướng Khánh (lúc đó mới 37 tuổi) làm như thế để mở đường ông tự phong là đại tướng và phong luôn đại tướng cho Dương văn Minh và Trần Thiện Khiêm. Ông cũng lập ra cấp chuẩn tướng ( 1 sao) và những vị đại tá đầu tiên may mắn được mang lon chuẩn tướng là các tư lệnh quân, binh chủng QLVNCH như : Nguyễn Cao Kỳ (Không quân), Phan Xuân Nhuận (Biệt động quân), Chung Tấn Cang (phó đề đốc Hải quân) v.v..

Trong khi những người mà CSVN gọi là liệt sĩ thì : TỔ QUỐC GHI CÔNG (?!), chứ không phải ƠN đâu nhé, vì sao , vì chỉ có : Ơn Bác và Ơn Đảng thôi mà !

LIỆT SĨ là một từ-ngữ cao quí . Việt-Nam Tự-Điển nxb Khai Trí, Saigon, 1970 của Lê Văn Đức ; Lê Ngọc Trụ hiệu đính, ở trang 812, tập thượng, định nghĩa : Liệt-sĩ : người đàn ông biết trọng đại-nghĩa, xem thường tính mạng mình :liệt-sĩ Phạm-hồng-Thái; 72 liệt-sĩ Hoàng-hoa-cương.

Xưa hơn nữa, Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, nxb Mặc Lâm, Hà Nội-Imprimerie Trung Bắc Tân văn 1931, định nghĩa : Liệt-sĩ : người có khí tiết mạnh mẽ . (trang 307, cột bên trái)

Quí em thấy chưa ! Mấy đứa sinh sau đẻ muộn sau này chắc chắn hiểu lầm ý nghĩa cao quí của từ-ngữ nay, vì CSVN định nghĩa - theo Từ điển tiếng Việt, của Hoàng Phê, Trung tâm từ điển học, nxb Đà Nẵng, 2010 - Liệt sĩ : người đã hi sinh trong khi làm nhiệm vụ .


1)- Thời đệ nhất VNCH hay có Bàn thờ Tổ Quốc. Anh Ph. ở Đô Vinh, Tháp Chàm nên thấy trong trụ sở của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia có Bàn Thờ Tổ Quốc , bài trí như sau : vẫn là cái bàn có lư hương , trên vách có hàng chữ chạy hình vòng cung : Tổ Quốc Trên Hết . Sau này thời đệ II VNCH ít thấy . Ngữ-tuyến TỔ QUỐC TRÊN HẾT bao gồm hai ý nghĩa :

- Các vị Tổ lập ra quốc gia là trên hết.
- Quốc gia của Tổ tiên để lại là trên hết .

Nhìn vào đó hãy ghi khắc trong lòng : phải giữ gìn tổ quốc mà tổ tiên ta bỏ ra biết bao là máu xương mới tồn tại đến bây giờ cho chúng ta.

2)- Thời VNCH các vị nguyên thủ quốc gia như TT Ngô Đình Diệm (1901-1963), Quốc trưởng Phan Khắc Sửu (1905-1970) và TT Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) luôn luôn dùng từ-ngữ ĐỒNG BÀO khi ngỏ lời với quốc dân qua các thông điệp của mình như : Quốc dân Đồng bào (TT Ngô Đình Diệm) , Đồng bào thân mến (QT Phan Khắc Sửu & TT Nguyễn Văn Thiệu) .

Từ-ngữ ĐỒNG BÀO nghe rất là thân thương và trìu mến : cùng máu mủ với nhau, tức cùng tổ tông, nên hãy đùm bọc nhau, yêu thương nhau .

Trong Hiến Pháp, từ ngữ QUỐC GIA rất được sử dụng . QUỐC GIA bao hàm cả đồng bào & chánh quyền (lập pháp, tư pháp và hành pháp) . Vì thế Điều 100 Hiến pháp đệ II VNCH minh thị : Quốc gia khuyến khích tiến tới chê độ lưỡng đảng.

Toàn thể các nước văn minh với tự do dân chủ, không có một nhân vật nào hay đảng phái nào đứng trên HIẾN PHÁP. Hiến pháp càng lâu đời càng có giá trị và càng chứng tỏ sự yên bình của quốc gia đó; nếu có gì thay đổi do tình thế, họ chỉ biểu quyết để bổ sung bằng từ ngữ : TU CHÁNH ÁN (amendment) như Hiến Pháp Hoa Kỳ cách đây gần 150 năm. Vì nếu sửa đổi thành một Hiến pháp mới có nghĩa là : PHỈ BÁNG TỔ TIÊN CỦA MÌNH . TỔ QUỐC TRÊN HẾT là vậy đó .

Chữ ít tình nhiều,
BHAKTIVEDANTAVIDYARATNA
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times


Return to Nhởn Nhơ Thơ Thẩn

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest

cron