Thơ BÀNG BÁ LÂN

Thơ BÀNG BÁ LÂN

Postby Ngô Đồng » Tue Dec 29, 2015 12:42 am

Thơ BÀNG BÁ LÂN


Image

Bàng Bá Lân (1912-1988), tên thật là Nguyễn Xuân Lân; là nhà thơ, nhà giáo, và là nhà nhiếp ảnh Việt Nam.

Tiểu sử


Ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1912 ở phố Tân Minh, Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, chính quán của ông lại là làng Đôn Thư, tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Năm 1916 - 1918, ông theo cha mẹ lên sống ở Vôi rồi ở Kép thuộc tỉnh Bắc Giang.

Năm 1920 - 1928, ông sống với bà nội ở Đôn Thư, sau đó lại về Kép, học trường tiểu học Pháp-Việt ở Phủ Lý, Phủ Lạng Thương và đỗ bằng tiểu học Pháp-Việt ở Đáp Cầu.

Năm 1929 - 1933, ông vào học trường trung học Bảo hộ (trường Bưởi), đỗ bằng thành chung. Vì thi tú tài mấy lần không đỗ, năm 1934 ông về Kép vui thú điền viên, làm thơ, chụp ảnh và xuất bản tập thơ đầu tiên Tiếng thông reo.

Trước Cách mạng tháng Tám ông đã có những tác phẩm: Tiếng thông reo (1934), Xưa (hợp tác với nữ sĩ Anh Thơ, 1941), Tiếng sáo diều (1939 - 1945).

Vào Sài Gòn, ông dạy học và cộng tác với nhiều nhật báo, tuần san, bán nguyệt san và xuất bản thêm: Để hiểu thơ (1956, Thơ Bàng Bá Lân (1957), Tiếng võng đưa(1957).

Năm 1969, xuất bản các tập truyện: Người vợ câm, Vực xoáy, Gàn bát sách (phiếm luận) và tập thơ Vào thu. Ông cũng cho in hai quyển sách Kỷ niệm văn, thi sĩ hiện đại cùng một số sách Giáo khoa Việt văn cho nhiều cấp lớp. Ông còn đứng làm chủ bút tập san Bông Lúa vào thập niên 1950 ở Sài Gòn.

Từ 1977 đến 1984, Bàng Bá Lân viết thêm Kỷ niệm văn, thi sĩ hiện đại quyển 3, hồi ký Trọn đời cho thơ (bản thảo đã thất lạc). Ngoài ra, ông còn viết truyện ký danh nhân Anh em Lumière, ông tổ nhiếp ảnh, viết sách bình khảo, dịch truyện, dịch thơ v.v.

Trong lãnh vực nhiếp ảnh, Bàng Bá Lân cũng tỏ ra là một người có tài năng. Ông từng đoạt những giải thưởng, như: Giải Agfa-Việt báo (Hà Nội, 1937), giải nhì cuộc thi ảnh tạo phủ Thống sứ Bắc Kỳ (1938), huy chương của La Revue Francaise de Photographie et de Cinématographie (tạp chí nhiếp ảnh và điện ảnh Pháp) ở Paris (1939), giải thưởng Ferrania (1953); giải thưởng Triển lãm Tuần lễ Văn nghệ Sài Gòn (1955)...

Các tác phẩm nhiếp ảnh của ông từng được triển lãm ở Hội quán Hội Trí Tri, (Hà Nội, 1939), Bologna (Ý, 1952), Antwerpen (Bỉ,1953), Paris (Pháp, 1953), Singapore (1953), Cuba (1954), Rochester (Mỹ, 1956)...

Ngày 20 tháng 10 năm 1988, Bàng Bá Lân qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh, thọ 76 tuổi.

Đôi nét về văn nghiệp

Hai nhà nghiên cứu là Hoài Thanh và Hoài Chân nhận xét về thơ Bàng Bá Lân như sau:

"Đồng quê xứ Bắc đã gây cảm hứng cho nhiều nhà thơ. Nhưng mỗi nhà thơ xúc cảm một cách riêng...Bàng Bá Lân không có cái tỉ mỉ của Anh Thơ, không nhìn đủ hình dáng đời quê như Anh Thơ. Anh Thơ có khi nhìn cảnh không mến cảnh, Bàng Bá Lân có khi lại mến cảnh quên nhìn, nhưng đã lưu ý đến cảnh nào, Bàng Bá Lân thường lưu luyến cấnh ấy. Như khi người ta tả một buổi sáng:

Cổng làng rộng mở. Ồn ào
Nông phu lững thững đi vào nắng mai...

...Bởi thế có lúc người đã cảm được hồn quê vẫn bàng bạc sau cảnh vật"...

Trong Việt Nam thi nhân tiền chiến, Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng có nhận xét tương tự:

"Thi sĩ Bàng Bá Lân là một nhà thơ đồng quê nổi tiếng, thường ghi lại những nếp sinh hoạt của người dân miền thôn dã. Một buổi chiều mùa hạ, cảnh hoàng hôn vào độ cuối thu, một miền đất Cà Mau trù phú, một đế đô Hà Nội mến yêu vv...là đề tài chính của thi sĩ nên được giới yêu thơ tặng cho danh hiệu "nhà thơ của đồng áng", thiết tưởng không có gì quá đáng.

Ngoài khía cạnh độc đáo nhất của nhà thơ họ Bàng-loại thơ đồng quê. Đến đây chúng tôi xin nói đến phần khác: "thi ca tình yêu". Về loại này, Bàng Bá Lân không có nhiều...Tuy nhiên trong số ít đó, ông cũng tỏ ra có một giọng thơ "mướt" khi tỏ tình yêu, nhưng là thứ tình yêu nhẹ nhàng của người Á Đông, dù yêu tha thiết cũng không bộc lộ sỗ sàng, nó phải là thứ "tình trong như đã mặt ngoài còn e, như:

Buổi một nàng qua dưới mái hiên
Đường mưa in một gót chân tiên
Ta nhìn theo bước đi ren rén
Bỗng cả lòng yêu náo nức liền...
Từ ấy trên đường loang loáng mưa
Tìm hoài đâu thấy gót chân xưa!
Đường mưa bao gót chân mưa bước,
Gợi mãi tình yêu buổi dại khờ!

(trích "Tình trong mưa", 1942).

Thông tin thêm:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Có ý kiến cho rằng hai câu ca dao trên chính là thơ của ông, và nguyên bản của nó như sau:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi.

For this message the author Ngô Đồng has received thanks: 4
BinhMinh(Tue Dec 29, 2015 8:50 pm), Duyên Chi(Tue Dec 29, 2015 10:45 am), hat@(Tue Dec 29, 2015 12:12 pm), lachong(Tue Dec 29, 2015 4:01 am)
Rating:25%
 
User avatar
Ngô Đồng
 
Posts: 4853
Images: 0
Joined: Mon Aug 16, 2010 4:50 am
Has thanked: 31313 times
Have thanks: 17240 times

Re: Thơ BÀNG BÁ LÂN

Postby BinhMinh » Tue Dec 29, 2015 9:25 pm

Thân mời Ngô Đồng, Anh hat@, Duyên Chi, lachong và các bạn cùng xem bài thơ hay của BÀNG BÁ LÂN

Chưa Bao Giờ Thương Thế

Ðời ta bao lần dại,
Chỉ vì nhiều tự áị
Ðòi hỏi nơi người tình
Một lòng yêu băng trinh.

Em yêu ta đã rõ,
Còn thử thách hoài hoàị
Năm với năm là mười,
Vẫn chưa cho là đủ !

Hơn một chút là giận,
Chưa chi đã vội hờn.
Ðể làm em đau buồn,
Không tiếc lời cay đắng...

Em cắn răng chịu đựng
Phản ứng thiệt dịu dàng.
Ðược thể, ta lại càng
Làm em thêm đau khổ !

Em được gì kia chứ ?
Mà phải chịu đau buồn.
Ta được gì kia chứ ?
Mà làm em đau thương.

Ðêm nay em chợt ghé,
Em mở lòng cho xem :
Ôi thương em, thương em !
Chưa bao giờ thương thế !

Tác giả: Bàng Bá Lân

For this message the author BinhMinh has received thanks: 4
Duyên Chi(Wed Dec 30, 2015 1:24 am), hat@(Wed Dec 30, 2015 11:33 am), lachong(Wed Dec 30, 2015 5:10 am), Ngô Đồng(Wed Dec 30, 2015 1:51 am)
Rating:25%
 
BinhMinh
 
Posts: 1517
Joined: Sun Dec 06, 2015 9:34 am
Has thanked: 16783 times
Have thanks: 4581 times

VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ THƠ BÀNG BÁ LÂN - HUYỀN VIÊM

Postby Ngô Đồng » Sun Jan 03, 2016 9:25 am

VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ THƠ BÀNG BÁ LÂN

HUYỀN VIÊM

Năm 1965. Một buổi chiều mùa hạ đẹp trời trước ngày nghỉ hè, anh chị em nhà giáo chúng tôi quây quần trong phòng giáo sư trường Lê Bảo Tịnh, một trường rất lớn ở Sài Gòn, vui vẻ nghĩ đến những ngày được nghỉ ngơi sắp tới sau một năm trời dạy học.

Mọi người chuyện vãn râm ran, kẻ uống trà, người rít thuốc lào trong khi chờ đợi bữa tiệc chia tay hằng năm do nhà trường khoản đãi giáo sư và nhân viên như thường lệ.

Chợt anh Giám học Chu Đăng Sơn nhìn vào một người và vui vẻ hỏi :

– Thế nào, nhà thơ Bàng Bá Lân, anh có bài thơ mới nào ngâm lên cho anh em thưởng thức với chứ !

Bấy giờ tôi chưa biết Bàng Bá Lân. Anh này quay lại cười trừ :

– Dạy mệt bỏ xừ, làm gì còn thơ với thẩn !

Thì ra đó là tác giả “Tiếng thông reo”.

Anh Chu Đăng Sơn chỉ vào tôi và giới thiệu :

– Còn đây là Huyền Viêm, cũng là nhà thơ đấy.

Đồng thanh tương ứng, nhà thơ Bàng Bá Lân vui vẻ tiến đến nồng nhiệt bắt tay tôi :

– Tôi đọc thơ anh đã lâu trên các tạp chí Đời Mới, Phổ Thông, Thẩm Mỹ, Văn Nghệ Tiền Phong, tiếc rằng đến nay mới gặp.

Tôi quen Bàng Bá Lân từ đấy.

Thời gian sau, anh Lân mời tôi đến nhà chơi. Gia đình anh sống trong một căn nhà nhỏ có sân trồng cây cảnh ở quận Phú Nhuận. Anh làm việc cật lực, dạy nhiều trường để nuôi một gia đình đông con, cuộc sống của anh thanh bạch nhưng vui vẻ và ấm cúng. Vợ anh, chị Phạm Kim Thuần, là một phụ nữ rất tốt. Chị tất bật, tần tảo lo cho chồng, cho con hơn là nghĩ đến mình.

Bấy giờ giáo sư trường công dạy nghĩa vụ mỗi tuần chỉ 18 tiếng mà anh Lân gánh từ 40 đến 48 tiếng một tuần tại các tư thục, thời khóa biểu kín hết, chỉ trống ngày chủ nhật. Được cái là lương ở các tư thục rất cao, lương của một giáo sư trung bình tương đương từ một đến hai lượng vàng mỗi tháng tùy theo dạy nhiều hay ít, có tên tuổi hay không (hồi đó vàng rất rẻ). Còn các giáo sư tầm cỡ như Nguyên Sa Trần Bích Lan thì đi dạy bằng ô-tô là chuyện bình thường. Vì thế hồi đó nhiều giáo sư chệ trường công, chỉ thích dạy trường tư và các giáo sư trường công cũng tìm cách kiếm giờ ở trường tư để dạy thêm vào những ngày rảnh rỗi.

Anh Lân nỗ lực làm việc trong năm bảy năm thì mua được nhà vì nhà ở Sài Gòn hồi ấy rất rẻ, chỉ vài chục lượng vàng đã có thể mua được một căn nhà mặt tiền khang trang, sạch đẹp. Từ đó chúng tôi thường đến thăm nhau để đàm đạo chuyện văn chương. Khi đã thân nhau rồi, chúng tôi thường rủ nhau ghé quán cà phê sau khi tan học buổi chiều. Một bữa, giữa lúc vui chuyện, anh đột ngột hỏi tôi :

– Trong số thơ tôi, anh thích bài nào nhất?

Câu hỏi thật khó trả lời vì tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Tôi thật thà đáp :

– Thơ anh tôi thích nhiều bài : Cổng làng nè, Hồ Xuân Hương nè, Giai nhân nè…nhung khó mà nói thích bài nào nhất…… Như chợt nhớ ra điều gì, tôi ngừng lại :

– Nhưng bài gây cho tôi nhiều ấn tượng là bài “Sông Thương”….

Không để tôi nói hết, anh nhổm dậy, reo lên :

– Vậy sao? Bài ấy tôi cũng rất thích, nhưng thất lạc đâu đó, tôi chưa tìm ra. Mà tôi cũng quên mất mấy câu. Anh có thể đọc cho tôi nghe không?

May là vì rất thích bài ấy, đọc nhiều lần nên thuộc, tôi bèn đọc cho anh nghe :

Một lá thuyền thơ thả tắm trăng,
Nước về đâu mãi, chảy xuôi dòng.
Sông Thương đôi ngả, này cô lái,
Hãy ghé cho vào bến nước trong ! (1)
Đôi mảnh hồn quê quá ngẩn ngơ,
Sinh nhầm thế kỷ, lạc tìm mơ.
Nhìn ra trời nước dềnh nghiêng ngả,
Say rượu hay là say ý thơ ?
Trời nước này đây hai mảnh trăng,
Vài ba lửa đóm ngỡ sao băng.
Đôi chèo vỗ sóng ngờ sênh phách,
Tưởng gái Tầm Dương ghé đãi đằng.
Có tiếng đêm dài khóc ở đâu,
Dế ven sông kéo nhị âu sầu.
Đôi bờ lăng lắng muôn tai lá,
Nước chở hồn sông dạt bãi dâu….

Anh lim dim đôi mắt, lắng nghe thơ mà hồn như mơ về tận sông Thương ở Bắc Giang một mùa thu năm cũ. Khi tôi ngừng lại, anh mở mắt ra, buông một tiếng thở dài. Bài thơ toát lên một nỗi buồn mênh mang sâu lắng.

Đến lượt tôi hỏi :

– Anh đọc nhiều thơ tôi, vậy anh thích bài nào nhất ?

Anh đáp, không cần suy nghĩ :

– Bài “Lá thư về Bắc” đăng trên tạp chí Đời Mới (2). Bài thơ gợi cho tôi tình hoài hương sâu sắc và khiến tôi nhớ tới Đinh Hùng.

Một buổi chiều thứ bảy gần Tết âm lịch năm Mậu Thân (1968), anh hẹn tôi sau giờ tan học buổi chiều ghé quán cà phê gần trường để nói chuyện thơ. Tôi ngồi ở phòng giáo sư chờ anh mãi nhưng không thấy. Chuông tan học đã lâu mà anh vẫn chưa xuống. Năm giờ, 5 giờ 15 rồi 5 giờ 30 mới thấy anh lò dò xuống, rối rít xin lỗi tôi vì đã trễ hẹn mất nửa giờ. Hỏi ra mới biết hôm ấy anh dạy Việt văn lớp 12, đến đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, anh say sưa giảng quá giờ mà không hay, đến khi học trò nhắc anh mới sực tỉnh. Chả là nhà trường có hậu ý bố trí cho các lớp 12 sắp thi tú tài học trên lầu cao nhất để tránh tiếng ồn ào ở dưới sân, vì thế nhiều khi chuông reo mà thầy trò không nghe. Mê văn chương như anh kể cũng hiếm.

Thấm thoắt đã đến ngày Sài Gòn giải phóng. Bấy giờ các nhà giáo chúng tôi chỉ được đăng ký dạy tai một trường, chứ không được dạy nhiều trường như trước nữa. Anh và tôi cùng đăng ký dạy tại trường Hưng Đạo, một trường lớn vào bậc nhất Sài Gòn vì trước đó chúng tôi đã từng dạy ở đây.

Những năm đầu sau giải phóng, lương hướng nhà giáo thật khiêm tốn, đời sống thiếu thốn là chuyện tất nhiên. Năm 1978 còn sống dưới chế độ bao cấp, tình hình kinh tế rất khó khăn, các nhu yếu phẩm đều được phân phối với giá rẻ.

Một hôm, ban đời sống của nhà trường thông báo mới nhận được một số lốp (vỏ) xe đạp nhưng hàng ít, người đông nên phải bốc thăm vào chiều hôm sau. Chẳng may hôm ấy anh Lân bị ốm, nên nhờ tôi bốc thăm hộ. Lần thứ nhất bốc thăm cho tôi : thăm trắng ! Lần thứ hai bốc thăm cho anh thì thăm trúng. Hai hôm sau, anh đi dạy lại, tôi trao cái lốp xe cho anh, anh mừng rỡ, mắt sáng lên khiến tôi vô cùng cảm động. Ngày nay cái lốp xe đạp có đáng gì nhưng hồi ấy rất quí đối với bọn nhà giáo chúng tôi vì xăng được phân phối mỗi tháng chỉ có 3 lít, còn chợ đen thì bán giá trên trời nên xe máy đành phải trùm mền, chỉ còn biết dùng xe đạp.

Bàng Bá Lân cũng là người có tính hài hước. Năm 1985, trong một buổi họp mặt các nhà giáo còn dạy hay đã nghỉ, vốn là bạn cũ của nhau, anh Phan Thanh Đức than phiền :

– Không hiểu sao ngày nay học trò hỗn láo quá, chẳng coi thầy cô ra gì cả.. Còn đâu là tinh thần “tôn sư trọng đạo”….

Anh Lân chợt ngắt lời :

– Anh nói sai rồi. Phải nói là “tôn viên trọng đạo” mới đúng chứ !

– Tại sao ?

– Anh không thấy ư ? Hiện nay trong cả nước, hơn chín chục phần trăm là giáo viên , còn không đầy mười phần trăm là giáo sư, vậy theo đa số phải nói là “tôn viên trọng đạo”.

Mọi người phá ra cười.

Bàng Bá Lân là vậy đó. Làm thơ hay, rất vui tính, tử tế và thân mật với bạn bè nên ai cũng mến. Thấm thoắt mà anh bỏ chúng ta đến hai chục năm rồi (1988-2008). Mỗi lần nghĩ tới anh là tôi nhớ đến một nhà thơ tài hoa, một nhà giáo nghiêm túc với vầng trán cao, đôi mắt sáng, nụ cười hiền dễ gây thiện cảm với mọi người.

Hôm đưa đám anh, các nhà giáo và học sinh đưa tiễn khá đông. Lướt qua hàng nữ sinh, tôi ngước nhìn lên thì thấy trên mắt các em long lanh hai hàng lệ. Ai nấy đều ngậm ngùi thương tiếc một nhà giáo tâm huyết, một nhà thơ có tài mà không được nằm xuống ở quê hương, nơi có dòng sông Thương thơ mộng mà anh từng mến yêu và ca ngợi.

*****

Ghi Chú:

(1) Con sông Thương nước chảy đôi dòng, một bên đục, một bên trong.
(2) Bài thơ này có đăng trên Newvietart, phần Thơ Nhạc.


MỘT BÀI THƠ HAY CỦA BÀNG BÁ LÂN


GIAI NHÂN

Giai nhân nan tái đắc
Lý Diên Niên


“Thư trung hữu nữ nhan như ngọc” (*),
Đọc sách mười năm chẳng gặp mình.
Chỉ thấy những tên xinh đẹp quá :
Tây Thi, Bao Tự, Thôi Oanh Oanh.
Ta thả hồn si lạc bốn trời,
Đi tìm người đẹp khắp nơi nơi.
Biết bao mong đợi, bao thương nhớ,
Mơ vẫn hoàn mơ, ôi lẻ loi !
Nhưng một chiều thu nắng trải vàng,
Trời xanh mây bạc lượn lang thang.
Ta đi tìm hứng trên hè phố
Rẽ một đường quanh, bỗng gặp… Nàng !
Từ đáy lòng ta thốt tiếng “Ôi !”,
Có chi đổ vỡ ở trong người.
Tay chân bủn rủn, hồn ngây ngất,
E lệ trào lên cả mắt môi !
Tóc biếc mây nhường, trán sáng cao,
Môi son he hé nụ anh đào.
Cổ thiên nga nõn, hàm răng ngọc,
Mũi thẳng, cằm thon, mắt ánh sao.
Nàng chỉ nhìn ta một thoáng nhanh
Mà như trao gửi biết bao tình.
Ngã ba sắp khuất, còn quay lại :
Một liếc xiêu xiêu cả vạn thành !
Ôi ! Kiếp con tằm, kiếp nhả tơ,
Bao năm tìm kiếm, gặp tình cờ,
Để mà mơ ước, mà thương tiếc :
Em lấy chồng, anh mãi dệt thơ !
Muôn đời thi sĩ với giai nhân
Gặp gỡ dù cho chỉ một lần,
Thơ mộng ngàn năm vang bóng mãi,
Cho ngàn năm mãi mãi bâng khuâng !

BÀNG BÁ LÂN
(Trong tập “Vào thu”)
(Nguồn: Blog Sơn Trung)

For this message the author Ngô Đồng has received thanks: 3
Duyên Chi(Sun Jan 03, 2016 10:02 am), hat@(Sun Jan 03, 2016 12:03 pm), lachong(Sun Jan 03, 2016 10:33 am)
Rating:18.75%
 
User avatar
Ngô Đồng
 
Posts: 4853
Images: 0
Joined: Mon Aug 16, 2010 4:50 am
Has thanked: 31313 times
Have thanks: 17240 times

Hãy trả thơ về cho Bàng Bá Lân! - Hoàng Chí Quang

Postby Duyên Chi » Tue Jan 12, 2016 7:51 am

Hãy trả thơ về cho Bàng Bá Lân!

Image

TP - Hai câu thơ của nhà thơ Bắc Giang: Bàng Bá Lân; và nguyên văn của nó chắc chắn là: “Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi” chứ không phải “Múc ánh trăng vàng đổ đi”.

Năm 1972, một anh bạn rủ tôi đến thăm nhà thơ Bàng Bá Lân ở một cái hẻm lớn trên đường Công Lý, Sài Gòn. Hôm ấy là Chủ nhật, ông không phải lên lớp (ông dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn).

Thực ra, trước khi gặp ông, tôi cũng đã biết đến ông, một nhà thơ tiền chiến quê Bắc Giang, ông nói với tôi là đồng hương. Tôi còn biết ông phụ trách một tiết mục trên đài truyền hình Sài Gòn hồi đó.

Tiết mục mà ông phụ trách là trưng ra nhiều bức hình tư liệu về đời sống, sinh hoạt của mọi tầng lớp dân chúng ở miền Bắc trước năm 1955 như: xe thồ, đi dân công, chống lụt ở vùng chiêm trũng…

Ông có vóc người trung bình, nhanh nhẹn, trang phục bình dân, giản dị. Ông nói chuyện với chúng tôi về thời sự, kinh tế, rồi văn học, văn chương truyền miệng, thơ…

Ông thuộc rất nhiều, giọng đọc thơ rất hay. Ông đọc từ thơ tiền chiến đến thơ Đường, thơ Pháp. Nghe ông đọc, như bị thôi miên. Chờ khi ông ngừng nghỉ một lát, tôi mới nói chen vào, rằng trong ca dao Việt Nam tôi rất thích hai câu:

“Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc trăng vàng đổ đi”.

Tức thì nhà thơ ngắt lời tôi. Ông bảo hai câu thơ đó là trích trong một bài thơ lục bát gồm 12 câu của ông. Rồi ông đọc liền một mạch cả bài thơ đó. Nhưng ông sửa lại câu 8 mà tôi vừa dẫn trên là:

“Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi”

Và ông giải thích: Người ta không thể “múc ánh trăng vàng” mà là “múc trăng vàng” ở dưới nước. Khi cái gầu của cô gái trong câu ca dao, dìm xuống nước thì mặt trăng tan vỡ ra trong nước, hòa với nước, sóng sánh cùng với nước.

Thế là cô gái múc nước tát lên ruộng cao cũng đồng thời múc luôn cả vầng trăng tan vỡ trong đó. Trường hợp này cũng tương tự trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ.

Bài thơ có câu: “Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”. Ở đây con hổ không hề đứng ngửa mặt lên trời để uống ánh trăng trong không khí mà là uống trăng tan trong dòng suối sau khi đã “say mồi”.

Nghe nhà thơ giảng nghĩa như vậy, chúng tôi từ chỗ ngỡ ngàng đến khâm phục. Hai câu thơ trên là của nhà thơ Bắc Giang: Bàng Bá Lân; và nguyên văn của nó chắc chắn là: “Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi” chứ không phải “Múc ánh trăng vàng đổ đi”.

Mãi về sau này cũng có một vài người lên tiếng công nhận hai câu ca dao trên là của Bàng Bá Lân, trong đó có Giáo sư Huyền Viêm có bài đăng trên “Kiến thức ngày nay”.

Tuy nhiên, chưa có ai chỉ rõ sự khác nhau giữa: “Múc ánh trăng vàng”“Lại múc trăng vàng” như vừa nêu trên. Theo thiển nghĩ của chúng tôi, sở dĩ có sự lầm lẫn trên là do tam sao thất bản.

Rằng, quyển “Ca dao tục ngữ Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Phan có in hai câu ca dao trên được xuất bản sau năm 1955 ở miền Bắc, còn tác giả của nó tức là nhà thơ Bàng Bá Lân lại di cư vào Nam từ năm 1954. Vì thế nhà thơ không được đọc quyển sách biên khảo của Vũ Ngọc Phan, không thấy sự nhầm lẫn đáng tiếc kể trên để lên tiếng cải chính.

Từ đó đến khi ông mất (1988), tôi chưa hề được gặp lại nhà thơ Bàng Bá Lân. Thỉnh thoảng gặp vài người bạn cố tri có lòng yêu mến văn chương, tôi lại đem tâm sự trên kể cho họ nghe. Suốt thời gian dài ấy, tôi cứ lòng dặn lòng bất cứ khi nào có dịp tôi sẽ đưa niềm tâm sự đó lên mặt báo. Rằng, nếu chưa làm được điều này thì tôi còn day dứt chưa yên. Rằng, món nợ tinh thần với nhà thơ đồng hương vẫn chưa trả được.

Bắc Giang, tháng 6/2007

Hoàng Chí Quang
06 Lê Lợi, T.T Chũ Lục Ngạn, Bắc Giang

For this message the author Duyên Chi has received thanks: 4
DIEU DUC(Wed Jan 13, 2016 12:38 am), hat@(Tue Jan 12, 2016 12:57 pm), lachong(Tue Jan 12, 2016 12:32 pm), Ngô Đồng(Tue Jan 12, 2016 10:44 am)
Rating:25%
 
Duyên Chi
 
Posts: 7374
Images: 33
Joined: Wed Sep 01, 2010 7:03 am
Has thanked: 33951 times
Have thanks: 25840 times


Return to Thơ Tiền Chiến

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest

cron