Người chuyên môn cười

Người chuyên môn cười

Postby DIEU DUC » Wed Nov 19, 2014 12:06 am

Người chuyên môn cười

Nguyên tác : Heinrich Boll
Người dịch : Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Heinrich Boll sinh tại Cologne (Đức) vào năm 1917 và mất năm 1985, là một trong những nhà văn hậu chiến rất nổi tiếng của nước Đức. Các tác phẩm của ông gồm "Ansichten eines Clowns" (The Clown), "Billard um halb zehn" (Billiards At Half-Past Nine) và "Gruppenbild mit Dame" (Group Portrait With Lady). Ông nhận giải Nobel về văn chương vào năm 1972.

Truyện ngắn sau đây được chuyển ngữ theo bản dịch Anh ngữ của Leila Vennewitz với nhan đề

"The Laughter".

Vì người ta thường coi tôi là một người đứng đắn đàng hoàng nên khi có ai đó hỏi tôi rằng tôi làm nghề ngỗng gì thì tôi thật là lúng túng: tôi đỏ mặt lên và nói năng lắp bắp ngay. Tôi thấy như ghen với những người mà họ có thể trả lời thoải mái: tôi là thợ hồ. Tôi ghen tức với những người thợ hớt tóc, những anh chàng thư ký kế toán và những anh chàng viết văn vì câu trả lời của họ thật là đơn giản, chính cái nghề của họ đã tự nói lên là họ làm công việc gì rồi mà chẳng cần "dài dòng văn tự" để giải thích gì thêm, trong khi tôi thì bó buộc phải trả lời những câu hỏi trên rằng: "Tôi là một người chuyên môn cười." Khi thú nhận như thế rồi thì lập tức bao giờ tôi cũng phải trả lời thêm một câu hỏi thứ hai: "Thế bạn kiếm sống bằng cách đó à?". Tôi thành thật trả lời: "Đúng vậy!". Tôi hiện tại đúng là đang kiếm sống bằng tiếng cười của tôi đấy, mà kiếm chác ngon lành là đằng khác nữa, vì tiếng cười của tôi - nói theo giọng lưỡi kinh doanh - đang ăn khách trên thị trường.

Tôi là một chuyên viên cười, cười xuất sắc, lại kinh nghiệm đầy mình, chẳng có kẻ nào khác có thể cười giỏi như tôi được, chẳng có ai cười mà có thể đạt tới tột đỉnh nghệ thuật như tôi.

Có một thời gian dài, để tránh khỏi phải giải thích lòng thòng chán ngấy, tôi đã tự gọi tôi là một diễn viên, nhưng tài nghệ của tôi trong lãnh vực kịch câm và kịch nói thì lại xoàng xĩnh lắm khiến tôi cảm thấy gọi như thế không ổn, xa vời sự thật quá. Tôi yêu sự thật và sự thật là: tôi là một người chuyên môn cười.

Tôi chẳng phải là một chú hề, cũng chẳng phải là một diễn viên hài kịch. Tôi không làm cho bà con cô bác khoái chí, vui vẻ, tôi chỉ diễn tả sự vui nhộn thôi: tôi cười như hệt một vị hoàng đế La Mã, hay cười kiểu giống y như một chú học trò nhạy cảm, tôi cười thoải mái giống kiểu cười thế kỷ thứ 17 cũng như thế kỷ thứ 19, và đôi khi vì nhu cầu tôi có thể cười theo bất cứ kiểu cười của thế kỷ nào, bất cứ từng lớp xã hội nào, bất cứ loại tuổi tác nào: đó chỉ thuần là một sự khéo léo mà tôi đã thu thập được, tương tự như sự khéo tay sửa dày, dép vậy. Trong lồng ngực của tôi chất chứa tiếng cười của Mỹ Châu, của Phi Châu, tiếng cười của dân da trắng, da đỏ, da vàng và nếu được trả một khoản tiền tương xứng thì tôi sẽ cười vang vang lên theo đúng với lời yêu cầu đặt hàng của ông giám đốc.

Tôi đã trở nên quan trọng rồi. Tôi cười để thâu vào đĩa hát, tôi cười để thâu vào băng, và các ông giám đốc truyền hình đối xử với tôi một cách kính nể. Tôi cười một cách sâu thẳm, ôn hòa hay điên dại. Tôi cười như một ông tài xế lái xe điện hay như một gã phụ việc trong tiệm thực phẩm. Có tiếng cười kiểu bình minh, kiểu hoàng hôn và kiểu đêm tối. Nói tóm tắt lại: người ta cần cười ở bất cứ nơi nào, cười bất cứ kiểu nào, tôi sẽ làm chuyện đó.

Thật khó mà vạch ra cho mọi người thấy rằng một cái nghề như thế này thì chán mớ đời, nhất là đối với tôi đó lại là một nghề chuyên môn, tôi đã lên đến tột đỉnh của nghệ thuật gây tiếng cười. Điều này cũng khiến cho tôi trở thành cần thiết để giúp cho các diễn viên hài kịch hạng ba hay hạng tư khi các anh chàng này có lý do chánh đáng sợ rằng khán giả của họ không phá ra cười với những câu pha trò vào lúc chót của câu chuyện. Bởi thế tôi hầu như mỗi đêm phải đến các hộp đêm, các phòng trà ngồi làm cò mồi kín đáo, công việc của tôi là cười vang lên trong những đoạn yếu nhất của chương trình để mọi người nghe thấy mà cười theo. Cần phải "canh me" mà tính toán giờ giấc cẩn thận: tôi phải cười cho thật lớn, thật mạnh, không sớm quá nhưng cũng đừng trễ quá, phải cười đúng lúc, đúng thời điểm đã sắp xếp trước. Tôi phá ra cười, toàn thể các khán giả sẽ rú lên cùng cười theo tôi và như thế cái vụ pha trò, giễu dở của anh chàng diễn viên sẽ được cứu vãn. Nhưng riêng phần tôi, tôi mệt mỏi lê chân ra phòng để áo, mặc áo khoác vào và lòng cảm thấy vui sướng vì cuối cùng dầu gì thì mình cũng vừa hoàn thành xong nhiệm vụ.

Ở nhà, tôi thường nhận được những bức điện tín gửi cho tôi: "Khẩn cấp. Cần tiếng cười của anh. Ghi âm thứ ba" và một vài giờ sau là tôi đã chui vào ngồi trong một chuyến xe lửa tốc hành quá nóng nực để mà than vãn cho cái số phận của mình.

Tôi cũng cần phải nói thêm rằng những lúc ngoài giờ làm việc hay khi đang đi nghỉ hè thì tôi lại có khuynh hướng cười rất ít: những kẻ chăn bò chỉ vui khi họ quên bò của họ, người thợ nề chỉ vui khi quên đi vôi vữa, và các anh chàng thợ mộc thì thường thường lại có cái cửa ra vào hay những ô kéo bị kẹt, khó mở, những tay làm bánh mứt lại khoái đồ chua, những anh chàng hàng thịt lại ưa bánh hạnh nhân, và người làm bánh thì thích thịt nhồi hơn là bánh, những tay đấu bò thích nuôi chim bồ câu làm thú giải trí, những võ sĩ quyền Anh mặt tái đi khi thấy con cái mình bị chảy máu mũi. Tôi thấy tất cả đều là chuyện bình thường, vì chính tôi chẳng bao giờ cười lúc ngoài giờ làm việc. Tôi là một người nghiêm túc và mọi người coi tôi - có lẽ đúng vậy - là một gã bi quan.

Trong những năm đầu của cuộc sống hôn nhân bà vợ tôi thường nói với tôi: "Cười lên chứ!" nhưng rồi kể từ đó bà vợ tôi hiểu ra rằng tôi chẳng thể chiều ý bà ấy được. Tôi cảm thấy sung sướng khi tôi được thoải mái khỏi phải lên gân mặt, được thoải mái tinh thần. Thật vậy, ngay cả lúc người khác cười thì cái cười ấy cũng tác động đến đầu óc của tôi, vì nó gợi cho tôi nhớ đến nghề nghiệp của mình. Chính vì thế mà cuộc hôn nhân của chúng tôi hoàn toàn trầm lặng và an bình, bởi vì bà vợ tôi cũng quên mất cả cười rồi. Thỉnh thoảng tôi chợt bắt gặp vợ tôi mỉm cười và tôi cũng cười mỉm theo. Chúng tôi trò chuyện với nhau bằng một giọng nhỏ nhẹ, bởi vì tôi ghét cay ghét đắng cái tiếng động ồn ào của các hộp đêm, các phòng trà, ghét cái âm thanh đôi khi ầm ĩ vang rền lên khắp cả phòng thu thanh. Những người nào không biết rõ tôi lại nghĩ rằng tôi là kẻ suy tư, ít nói. Có lẽ tôi như vậy đó, bởi vì tôi đã phải há miệng ra để cười quá nhiều rồi.

Đời tôi trôi qua với những nét biểu lộ tình cảm trơ lạnh như vậy. Thỉnh thoảng tôi cũng có cười nhẹ nhàng chút đỉnh và tôi thường tự hỏi không biết mình đã từng biết cười bao giờ chưa nhỉ? Tôi nghĩ rằng không. Các anh chị em của tôi lại coi tôi như một đứa rất nghiêm trang.

Bởi thế tôi có thể cười đủ các kiểu khác nhau, nhưng chính tôi, tôi không có được một nụ cười nào cho riêng cá nhân mình. ***.
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Người chuyên môn cười

Postby DIEU DUC » Thu Jan 01, 2015 3:38 pm

Đầu năm tản mạn

Trà Lũ


Canada là xứ giầu có qúa sức. Chỉ riêng năm ngoái, đầu năm người ta khám phá ra bãi cát dầu ở miền trung, giữa năm khám phá ra bãi cát sắt ở miền đông, cuối năm khám phá ra kho khí đốt mênh mông dưới biển miền tây. Chỉ việc đãi cát là có dầu, đãi cát là có sắt, cho ống xuống đáy biền là có khí đốt. Và Canada có toàn chủ quyền chứ không phải tranh chấp với bất cứ nước nào về những tài nguyên này. Giầu có như vậy lại còn được quốc tế ca ngợi nữa. Chẳng hạn Tap Chí The Economist số vừa qua đã công bố danh sách 5 thành phố đáng sống nhất thế giới, trong số 5 này có 3 thành phố của Canada, đó là Vancouver ở miền tây, Calgary ở miền trung tây và Toronto ở miền đông. Chưa hêt, trong số 50 ngân hàng an toàn nhất thế giới thì Canada có tới 7. Các cụ phương xa muốn giữ tiền bạc cho an toàn thì nên gửi ở ngân hàng Canada nha. Ngân hàng Canada cũng an toàn như ngân hàng Thụy Sĩ vậy.

Dân VN ta sống ở Canada có tới 200 ngàn. Tôi thấy ai cũng cảm thấy mình sung sướng vì đang được sống ở thiên đàng. Ai cũng sống thọ. Chẳng hạn Bà cụ Nguyễn Bách Bằng thọ tới 100 tuổi rồi mới ra đi. Hiện ở thủ đô Ottawa còn Cụ Đào Trọng Cương đã thọ tới 103 tuổi, chắc cụ rồi sẽ đi vào sách kỷ lục thê giới. Các bạn biết cụ Cương chứ. Cụ là kiến trúc sư VN đầu tiên tốt nghiệp trường kiến trúc Hà Nội thuở xa xưa, cụ là cựu hướng đạo sinh VN tiên phong, là nhạc phụ của BS Nguyễn Trùng Khánh nổi tiếng thế giới về quang tuyến… Riêng làng tôi, ngày xưa dân làng ai mái tóc cũng xanh, nay quay đi quay lại mái tóc đa số đã bạc nhưng may qúa tiếng cười vần còn rổn rảng trẻ trung.

Xin trình các cụ tin này : Mọi năm làng tôi chỉ ăn tết ta, tết VN truyền thống của dân tộc, nhưng năm nay các cụ trong làng đã đi một bước mới, các cụ đã quyết định ăn cả tết tây nữa. Các cụ lập luận rằng dù gì đi nữa dân làng đã là công dân của nứớc Canada vĩ đại này, tại sao không ăn tết Canada để cho các con các cháu theo gương. Và làng tôi vừa qua một đêm giao thừa tết tây tuyệt vời.

Nơi họp là nhà anh chị John, bắt đầu lúc 11:30 giờ trước nửa đêm. Theo đúng lối Canada, dân làng ngồi trước máy truyền hình lớn để xem toàn cảnh thủ đô Toronto đón tết. Chao ơi người đâu mà đông thế. Nam thanh nữ tú sao mà nhiều thế. Giới trẻ ở đây có thói quen giao thừa tết tây là phải xuống phố, sau giao thừa thì mới đi dự tiệc rồi mới về nhà xông đất. Giờ quan trọng tới. Làng tôi ai cũng hồi hộp quá. Rồi không ai bảo ai, mọi người đều đếm to 10 giây cuối cùng của năm cũ, đếm cùng với dân chúng trên màn ảnh, đếm ngược nha. 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3 2, 1. Và cả làng hầu như đã hét lên ‘Happy New Year!’ Nghe tiếng hét mà tôi thấy mình trẻ lại. Không ngờ cái máu Canada đã chảy trong chúng tôi mạnh như vậy.

Và chủ nhà đã bày tiệc. Việc đầu tiên là mở champagne. Dân Canada chỉ uống champagne lúc giao thừa chứ không ăn. Vừa uống vừa chúc mừng vừa hò hét vừa ca hát. Điều quan trọng nhất là mọi người phải vui cười. Anh H.O. được Chị Ba Biên Hòa giao trọng trách phải kể một câu chuyện thật vui và phải làm cho mọi người cười như pháo nổ. Và anh đã kể chuyện này :

… Anh Văn và anh Hùng là bạn thân với nhau. Cả hai đều được vợ cho phép đi trượt tuyết ở miền núi. Hai chàng lái chung một xe, lòng vui sướng khôn tả. Nhưng bất ngờ giữa đường gặp cơn bão tuyết lớn. Hai chàng phải táp vào một căn nhà bên đường xin trú bão. Ra mở cửa là một thiếu phụ rất trẻ đẹp. Sau khi hai chàng ngỏ lời xin trú bão qua đêm thì người đẹp từ chối. Nàng nói rằng nàng là một thiếu phụ, vừa góa chồng. nay nếu cho hai chàng vào ngủ qua đêm thì sẽ bị hàng xóm dị nghị, thật không tiện chút nào. Vì cơn bão đã tới gần, hai chàng bèn năn nỉ : Chúng tôi không dám xin ngủ trong nhà này, chúng tôi chỉ xin ngủ trong nhà xe, sáng mai hết bão thì chúng tôi sẽ đi ngay và đi sớm. Người đẹp liền bằng lòng. Và hai chàng đã qua đêm bão tuyết trong căn nhà để xe. Sau đó chuyến đi trượt tuyết của hai người đã thành công rất tốt đẹp. Rồi không ai nhắc tới chuyến đi này nữa.

Chừng chín tháng sau, anh Văn nhận được thư của một luật sư liên hệ tới cuộc ngủ đêm tránh bão trong chuyến đi trượt tuyết. Anh bóp trán mãi mới nhớ ra cuộc ngủ đêm này. Rồi anh gọi cho Hùng và hỏi :

- Mày có nhớ buổi đi trượt tuyết mà chúng mình gặp trận bão nên phải ngủ nhờ nhà xe của một góa phụ trẻ đẹp không ?

- Nhớ chứ

- Tao hỏi thật mày điều này nha : Có phải đêm đó trong lúc tao ngủ say thì mày lẻn lên nhà thiếu phụ và ngủ với nàng phải không? Và khi mày yêu nàng xong có phải mày đã xưng danh, và mày đã cho nàng tên, không phải tên mày mà tên tao và địa chỉ của tao phải không?

- Sorry. Đúng như vậy. Tao xin lỗi mày về việc tầm bậy này. Mà có chuyện gì quan trọng không?

- Có chứ. Tao vừa được thư của một luật sư báo tin góa phụ xinh đẹp đó đã chết và bà ta để hết gia tài cho tao.

- Trời !

Cả làng nghe xong thì phá ra cười, vỗ tay râm ran và khen câu chuyện hay quá. Đầu năm mà nghe chuyện được cho gia tài bất ngờ, thật là hên và vui.

Cô Tôn Nữ gốc Huế thì tỏ ra thích câu chuyện này qúa. Cô nói : Tôi cứ tưởng thư luật sư báo tin goá phụ đẻ con và yêu cầu anh Văn lên nhận trách nhiệm chứ…

Anh H.O. được cả làng khen chuyện tiếu lâm đầu năm hay thì tỏ ra sung sướng hết sức. Cụ B.95 hỏi : Mọi khi anh kể chuyện cười thì chuyện nào của anh cũng mặn hết, cũng dính tới cái ấy. Hôm nay lần đầu tiên được nghe anh kể một chuyện hay mà không mặn chút nào. Anh còn chuyện nào nữa không, xin cho nghe tiếp để cả năm chúng tôi sẽ được cười sảng khoái như vậy. Dân làng ai cũng gật đầu đồng ý về lời xin này.

Thế là anh H.O. được hứng. Anh kể tiếp. Anh bảo đây là câu chuyện trên thiên đàng nha, chứ không phải chuyện dưới trần thế, nên không hề mặn và chạm tới cái ấy.

… Rằng có 3 anh kia là bạn thân với nhau từ bé. Bữa đó ba anh rủ nhau đi du lịch. Chẳng may máy bay rớt, cả ba tử nạn. Sau khi chết, ba anh cùng bay lên trời xin Thánh Peter cho vào thiên đàng. Theo Sách Thánh thì khi còn sống Thánh Peter có vợ và được Chúa chọn làm thủ lãnh các tông đồ, và được Chúa giao cho chìa khóa cửa thiên đàng. Thánh Peter nghe lời xin của ba anh thì truyền cho thiên thần gác cổng thiên đàng mở cửa cho cả ba vào. Thiên thần xem hồ sơ cá nhân của ba anh xong liền trình rằng : Ba anh này sống bậy bạ lắm, khi còn ở trần gian thì anh nào cũng hai vợ. St. Peter nghe xong liền bảo thiên thần : Ta khi còn sống ở trần gian, ta chỉ có một vợ mà ta khổ sở vô cùng. Chúng nó chịu đựng được tới hai vợ thì nhân đức của chúng lớn lắm, bởi vậy chúng đáng được vào thiên đàng. Thiên thần bèn tuân lệnh mở cửa cho ba anh này vào. Chúng vào xong, thiên thần lại hỏi thánh Peter : Bây giờ cho ba anh này ở đâu? Thánh Peter đáp ngay : Cho anh A cái căn nhà số 1, anh B cái căn nhà số 2, còn anh C thì cho cái biệt thự sang trọng nhất ở trung tâm. Thấy thiên thần ngạc nhiên về quyết định này, Thánh Peter nói ngay : Sỡ dĩ ta cho anh C cái biệt thự sang trọng là vì lúc nãy, anh A và anh B đều chào ta là ‘ kính chào Thánh Peter’, còn cái anh C này nó đã cung kính chào ta là ‘Con chào Dượng Peter’. Nó gọi ta là Dượng tức là nó có họ với vợ ta. Ta mà không cho nó cái biệt thư đó thì ta sẽ gặp khó khăn to với bà vợ của ta…

Cả làng lại vỗ tay râm ran lần nữa, ai cũng ca ngợi hai chuyện rất hay của anh H.O. Anh nhìn Chị Ba Biên Hòa rồi thưa : Em đã vâng lời chị, đã vất vả trong một tuần lễ, lục cả một đống sách lớn mới tìm ra hai chuyện thánh thiện và trong trắng như vậy. Em xin hết. Bây giờ cho phép em được mời bồ chữ ODP kể chuyện lấy hên cho đầu năm.

Ông ODP nói ngay : Tôi có một câu chuyện, không phải chuyện cười mà là một chuyện về văn hóa, tôi đọc thấy trên điện báo mà tôi cho là hay thấm thía. Nhà văn Nguyên Trần kể về một tấm bia lịch sử. Chuyện như thế này :

… Ở Canada, tháng 11 là tháng kính nhớ các người qúa vãng. Đầu tháng 11,

các nhà thờ Công Giáo thường tổ chức các buổi lễ Cầu Hồn và đi viếng nghĩa trang, còn thành phố thì quen tổ chức lễ truy điệu ở đài các chiến sĩ trận vong. Nhà văn Nguyên Trần đã đi viếng nghĩa trang. Sau khi viếng mộ thân nhân xong thì ông đi rảo quanh nghĩa trang. Bỗng ông chợt thấy một tấm bia mộ đặc biệt. Mộ bia làm bằng đá hoa cương, cao một thước rưỡi. Hai bên tấm bia có 2 chân đèn đồng rất lớn, trên có đèn cầy và hai lá cờ Canada và VNCH. Mặt bia ghi ba thứ tiếng Anh văn, Pháp văn và Việt văn với nội dung giống nhau. Lời tiếng Việt như thế này :

… Xin thành kính tưởng niệm và nhớ ơn các chiến sĩ cùng tất cả đồng bào đã bỏ mình vì tự do và nhân quyền cho VN trước và sau 30.4.1975. Xin tưởng niệm đồng bào bị tù đầy chết chóc, tử nạn trên đường vượt biên tìm tự do sau ngày 30.4.1975.

Người VN tỵ nạn CS tri ân đất nước Canada và các nước tiếp nhận tỵ nạn CS trên thế giới. Chúng ta rất hạnh phúc được sống trên mảnh đất đầy tình thương, hòa bình, tự do và nhân quyền. VN, đất nước của tổ tiên chúng ta, sẽ mãi mãi sống trong lòng dân Việt.

Bia mộ này nằm trong nghĩa trang Glen Oaks ở Mississauga, phía tây Toronto.

Kể đến đây xong thì ông ODP hỏi cả làng : các bạn thấy thế nào ? Tôi đọc xong bản tin trên đây mà thấy xúc động qúa. Xin đa tạ nhà văn Nguyên Trần đã nhìn ra tấm bia mộ đầy tính chất lịch sử và văn hóa. Xin đa tạ một vị ẩn danh hay một hội đoàn nào đó đã tạo ra tấm bia lịch sử. Các bạn thật tuyệt diệu. Các bạn đã nói thay cho chúng tôi. Các bạn đã nhắc cho hậu thế lòng biết ơn phải có của con dân VN trên giải đất tự do này.
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Người chuyên môn cười

Postby DIEU DUC » Thu Jan 01, 2015 3:41 pm

Đầu năm tản mạn

Image


Canada là xứ giầu có qúa sức. Chỉ riêng năm ngoái, đầu năm người ta khám phá ra bãi cát dầu ở miền trung, giữa năm khám phá ra bãi cát sắt ở miền đông, cuối năm khám phá ra kho khí đốt mênh mông dưới biển miền tây. Chỉ việc đãi cát là có dầu, đãi cát là có sắt, cho ống xuống đáy biền là có khí đốt. Và Canada có toàn chủ quyền chứ không phải tranh chấp với bất cứ nước nào về những tài nguyên này. Giầu có như vậy lại còn được quốc tế ca ngợi nữa. Chẳng hạn Tap Chí The Economist số vừa qua đã công bố danh sách 5 thành phố đáng sống nhất thế giới, trong số 5 này có 3 thành phố của Canada, đó là Vancouver ở miền tây, Calgary ở miền trung tây và Toronto ở miền đông. Chưa hêt, trong số 50 ngân hàng an toàn nhất thế giới thì Canada có tới 7. Các cụ phương xa muốn giữ tiền bạc cho an toàn thì nên gửi ở ngân hàng Canada nha. Ngân hàng Canada cũng an toàn như ngân hàng Thụy Sĩ vậy.

Dân VN ta sống ở Canada có tới 200 ngàn. Tôi thấy ai cũng cảm thấy mình sung sướng vì đang được sống ở thiên đàng. Ai cũng sống thọ. Chẳng hạn Bà cụ Nguyễn Bách Bằng thọ tới 100 tuổi rồi mới ra đi. Hiện ở thủ đô Ottawa còn Cụ Đào Trọng Cương đã thọ tới 103 tuổi, chắc cụ rồi sẽ đi vào sách kỷ lục thê giới. Các bạn biết cụ Cương chứ. Cụ là kiến trúc sư VN đầu tiên tốt nghiệp trường kiến trúc Hà Nội thuở xa xưa, cụ là cựu hướng đạo sinh VN tiên phong, là nhạc phụ của BS Nguyễn Trùng Khánh nổi tiếng thế giới về quang tuyến… Riêng làng tôi, ngày xưa dân làng ai mái tóc cũng xanh, nay quay đi quay lại mái tóc đa số đã bạc nhưng may qúa tiếng cười vần còn rổn rảng trẻ trung.

Xin trình các cụ tin này : Mọi năm làng tôi chỉ ăn tết ta, tết VN truyền thống của dân tộc, nhưng năm nay các cụ trong làng đã đi một bước mới, các cụ đã quyết định ăn cả tết tây nữa. Các cụ lập luận rằng dù gì đi nữa dân làng đã là công dân của nứớc Canada vĩ đại này, tại sao không ăn tết Canada để cho các con các cháu theo gương. Và làng tôi vừa qua một đêm giao thừa tết tây tuyệt vời.

Nơi họp là nhà anh chị John, bắt đầu lúc 11:30 giờ trước nửa đêm. Theo đúng lối Canada, dân làng ngồi trước máy truyền hình lớn để xem toàn cảnh thủ đô Toronto đón tết. Chao ơi người đâu mà đông thế. Nam thanh nữ tú sao mà nhiều thế. Giới trẻ ở đây có thói quen giao thừa tết tây là phải xuống phố, sau giao thừa thì mới đi dự tiệc rồi mới về nhà xông đất. Giờ quan trọng tới. Làng tôi ai cũng hồi hộp quá. Rồi không ai bảo ai, mọi người đều đếm to 10 giây cuối cùng của năm cũ, đếm cùng với dân chúng trên màn ảnh, đếm ngược nha. 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3 2, 1. Và cả làng hầu như đã hét lên ‘Happy New Year!’ Nghe tiếng hét mà tôi thấy mình trẻ lại. Không ngờ cái máu Canada đã chảy trong chúng tôi mạnh như vậy.

Và chủ nhà đã bày tiệc. Việc đầu tiên là mở champagne. Dân Canada chỉ uống champagne lúc giao thừa chứ không ăn. Vừa uống vừa chúc mừng vừa hò hét vừa ca hát. Điều quan trọng nhất là mọi người phải vui cười. Anh H.O. được Chị Ba Biên Hòa giao trọng trách phải kể một câu chuyện thật vui và phải làm cho mọi người cười như pháo nổ. Và anh đã kể chuyện này :

… Anh Văn và anh Hùng là bạn thân với nhau. Cả hai đều được vợ cho phép đi trượt tuyết ở miền núi. Hai chàng lái chung một xe, lòng vui sướng khôn tả. Nhưng bất ngờ giữa đường gặp cơn bão tuyết lớn. Hai chàng phải táp vào một căn nhà bên đường xin trú bão. Ra mở cửa là một thiếu phụ rất trẻ đẹp. Sau khi hai chàng ngỏ lời xin trú bão qua đêm thì người đẹp từ chối. Nàng nói rằng nàng là một thiếu phụ, vừa góa chồng. nay nếu cho hai chàng vào ngủ qua đêm thì sẽ bị hàng xóm dị nghị, thật không tiện chút nào. Vì cơn bão đã tới gần, hai chàng bèn năn nỉ : Chúng tôi không dám xin ngủ trong nhà này, chúng tôi chỉ xin ngủ trong nhà xe, sáng mai hết bão thì chúng tôi sẽ đi ngay và đi sớm. Người đẹp liền bằng lòng. Và hai chàng đã qua đêm bão tuyết trong căn nhà để xe. Sau đó chuyến đi trượt tuyết của hai người đã thành công rất tốt đẹp. Rồi không ai nhắc tới chuyến đi này nữa.

Chừng chín tháng sau, anh Văn nhận được thư của một luật sư liên hệ tới cuộc ngủ đêm tránh bão trong chuyến đi trượt tuyết. Anh bóp trán mãi mới nhớ ra cuộc ngủ đêm này. Rồi anh gọi cho Hùng và hỏi :

- Mày có nhớ buổi đi trượt tuyết mà chúng mình gặp trận bão nên phải ngủ nhờ nhà xe của một góa phụ trẻ đẹp không ?

- Nhớ chứ

- Tao hỏi thật mày điều này nha : Có phải đêm đó trong lúc tao ngủ say thì mày lẻn lên nhà thiếu phụ và ngủ với nàng phải không? Và khi mày yêu nàng xong có phải mày đã xưng danh, và mày đã cho nàng tên, không phải tên mày mà tên tao và địa chỉ của tao phải không?

- Sorry. Đúng như vậy. Tao xin lỗi mày về việc tầm bậy này. Mà có chuyện gì quan trọng không?

- Có chứ. Tao vừa được thư của một luật sư báo tin góa phụ xinh đẹp đó đã chết và bà ta để hết gia tài cho tao.

- Trời !

Cả làng nghe xong thì phá ra cười, vỗ tay râm ran và khen câu chuyện hay quá. Đầu năm mà nghe chuyện được cho gia tài bất ngờ, thật là hên và vui.

Cô Tôn Nữ gốc Huế thì tỏ ra thích câu chuyện này qúa. Cô nói : Tôi cứ tưởng thư luật sư báo tin goá phụ đẻ con và yêu cầu anh Văn lên nhận trách nhiệm chứ…

Anh H.O. được cả làng khen chuyện tiếu lâm đầu năm hay thì tỏ ra sung sướng hết sức. Cụ B.95 hỏi : Mọi khi anh kể chuyện cười thì chuyện nào của anh cũng mặn hết, cũng dính tới cái ấy. Hôm nay lần đầu tiên được nghe anh kể một chuyện hay mà không mặn chút nào. Anh còn chuyện nào nữa không, xin cho nghe tiếp để cả năm chúng tôi sẽ được cười sảng khoái như vậy. Dân làng ai cũng gật đầu đồng ý về lời xin này.

Thế là anh H.O. được hứng. Anh kể tiếp. Anh bảo đây là câu chuyện trên thiên đàng nha, chứ không phải chuyện dưới trần thế, nên không hề mặn và chạm tới cái ấy.

… Rằng có 3 anh kia là bạn thân với nhau từ bé. Bữa đó ba anh rủ nhau đi du lịch. Chẳng may máy bay rớt, cả ba tử nạn. Sau khi chết, ba anh cùng bay lên trời xin Thánh Peter cho vào thiên đàng. Theo Sách Thánh thì khi còn sống Thánh Peter có vợ và được Chúa chọn làm thủ lãnh các tông đồ, và được Chúa giao cho chìa khóa cửa thiên đàng. Thánh Peter nghe lời xin của ba anh thì truyền cho thiên thần gác cổng thiên đàng mở cửa cho cả ba vào. Thiên thần xem hồ sơ cá nhân của ba anh xong liền trình rằng : Ba anh này sống bậy bạ lắm, khi còn ở trần gian thì anh nào cũng hai vợ. St. Peter nghe xong liền bảo thiên thần : Ta khi còn sống ở trần gian, ta chỉ có một vợ mà ta khổ sở vô cùng. Chúng nó chịu đựng được tới hai vợ thì nhân đức của chúng lớn lắm, bởi vậy chúng đáng được vào thiên đàng. Thiên thần bèn tuân lệnh mở cửa cho ba anh này vào. Chúng vào xong, thiên thần lại hỏi thánh Peter : Bây giờ cho ba anh này ở đâu? Thánh Peter đáp ngay : Cho anh A cái căn nhà số 1, anh B cái căn nhà số 2, còn anh C thì cho cái biệt thự sang trọng nhất ở trung tâm. Thấy thiên thần ngạc nhiên về quyết định này, Thánh Peter nói ngay : Sỡ dĩ ta cho anh C cái biệt thự sang trọng là vì lúc nãy, anh A và anh B đều chào ta là ‘ kính chào Thánh Peter’, còn cái anh C này nó đã cung kính chào ta là ‘Con chào Dượng Peter’. Nó gọi ta là Dượng tức là nó có họ với vợ ta. Ta mà không cho nó cái biệt thư đó thì ta sẽ gặp khó khăn to với bà vợ của ta…

Cả làng lại vỗ tay râm ran lần nữa, ai cũng ca ngợi hai chuyện rất hay của anh H.O. Anh nhìn Chị Ba Biên Hòa rồi thưa : Em đã vâng lời chị, đã vất vả trong một tuần lễ, lục cả một đống sách lớn mới tìm ra hai chuyện thánh thiện và trong trắng như vậy. Em xin hết. Bây giờ cho phép em được mời bồ chữ ODP kể chuyện lấy hên cho đầu năm.

Ông ODP nói ngay : Tôi có một câu chuyện, không phải chuyện cười mà là một chuyện về văn hóa, tôi đọc thấy trên điện báo mà tôi cho là hay thấm thía. Nhà văn Nguyên Trần kể về một tấm bia lịch sử. Chuyện như thế này :

… Ở Canada, tháng 11 là tháng kính nhớ các người qúa vãng. Đầu tháng 11,

các nhà thờ Công Giáo thường tổ chức các buổi lễ Cầu Hồn và đi viếng nghĩa trang, còn thành phố thì quen tổ chức lễ truy điệu ở đài các chiến sĩ trận vong. Nhà văn Nguyên Trần đã đi viếng nghĩa trang. Sau khi viếng mộ thân nhân xong thì ông đi rảo quanh nghĩa trang. Bỗng ông chợt thấy một tấm bia mộ đặc biệt. Mộ bia làm bằng đá hoa cương, cao một thước rưỡi. Hai bên tấm bia có 2 chân đèn đồng rất lớn, trên có đèn cầy và hai lá cờ Canada và VNCH. Mặt bia ghi ba thứ tiếng Anh văn, Pháp văn và Việt văn với nội dung giống nhau. Lời tiếng Việt như thế này :

… Xin thành kính tưởng niệm và nhớ ơn các chiến sĩ cùng tất cả đồng bào đã bỏ mình vì tự do và nhân quyền cho VN trước và sau 30.4.1975. Xin tưởng niệm đồng bào bị tù đầy chết chóc, tử nạn trên đường vượt biên tìm tự do sau ngày 30.4.1975.

Người VN tỵ nạn CS tri ân đất nước Canada và các nước tiếp nhận tỵ nạn CS trên thế giới. Chúng ta rất hạnh phúc được sống trên mảnh đất đầy tình thương, hòa bình, tự do và nhân quyền. VN, đất nước của tổ tiên chúng ta, sẽ mãi mãi sống trong lòng dân Việt.

Bia mộ này nằm trong nghĩa trang Glen Oaks ở Mississauga, phía tây Toronto.

Kể đến đây xong thì ông ODP hỏi cả làng : các bạn thấy thế nào ? Tôi đọc xong bản tin trên đây mà thấy xúc động qúa. Xin đa tạ nhà văn Nguyên Trần đã nhìn ra tấm bia mộ đầy tính chất lịch sử và văn hóa. Xin đa tạ một vị ẩn danh hay một hội đoàn nào đó đã tạo ra tấm bia lịch sử. Các bạn thật tuyệt diệu. Các bạn đã nói thay cho chúng tôi. Các bạn đã nhắc cho hậu thế lòng biết ơn phải có của con dân VN trên giải đất tự do này.
( Trà Lũ )
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Người chuyên môn cười

Postby DIEU DUC » Fri Dec 09, 2016 12:38 am

Đầu trọc - ( Truyện dịch )


Tác giả: Vương Mông
Vũ Công Hoan dịch


Đang giữa mùa hè oi ả, ông Vương đang định đi cắt tóc. Ông hỏi vợ:
- Tôi húi cái đầu trọc được không bà?
Bà Vương giãy nảy, can lia lịa, không được, không được. Bà phân tích, điều kiện tiên quyết của người húi đầu trọc là đầu phải tròn, nhẵn mà tròn, tròn mà nhẵn, phải thế cơ! Còn đầu ông, như quả bí đao, như quả cà dái dê, như cái đầu đạn, cạo trọc đi trông chối lắm, ảnh hưởng xấu đến xã hội. Hơn nữa, bây giờ đâu có phải như mấy năm làm “cách mạng văn hóa”. Mấy năm ấy, ông cắt trọc là để tụi vệ binh đỏ không túm được tóc. Bây giờ chính trị trong sáng, xã hội ổn định, nhà nào cũng phấn đấu để có mức sống trung bình, người nào cũng vái thần tài, ông húi đầu trọc làm gì? Có mà điên!
Ông Vương hậm hực, tại sao húi cái đầu trọc cho mát mẻ cũng không được? Hơn bảy mươi tuổi rồi, có để cái đuôi sam nho nhỏ cũng không ảnh hưởng đến xã hội. Hôm trước, khi tâm sự với một đồng nghiệp cũ, ông nói: “Bây giờ mình có khiêm tốn cũng chẳng tiến bộ, có kiêu ngạo cũng chẳng lạc hậu…”. Lẽ nào người không cần khiêm tốn, không cần kiêu ngạo, lại sợ húi cái đầu trọc?

Để giữ hòa khí, ông đành hoãn “công trình” cắt tóc lại. Chủ nhật, ông bàn với các con. Chúng lập tức chia thành hai phe. Phe tán thành phân tích, giống như để tóc chấm vai, đầu trọc đang là mốt thời thượng. Vua nhảy cầu nước Mỹ đầu trọc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao đầu trọc, một nguyên thủ quốc gia nào đó đầu trọc, rồi một học giả nào đấy cũng đầu trọc. Đầu trọc là độc quyền của cánh đàn ông, là sức hấp dẫn của cảm giác tính dục, là biểu hiện của già nhưng không yếu, là biểu tượng của tự do, nghĩa là nó là thắng lợi của ý chí tự do của bố, một trong những biểu hiện của tiến bộ xã hội và văn hóa đa nguyên…

Phe phản đối bác lại, cho rằng mỹ quan là yêu cầu số một của đàn bà và của cả đàn ông. Mỹ quan là thanh xuân, càng là quyền lợi, đặc biệt là nghĩa vụ của người già. Cái răng cái tóc là góc con người. Mái tóc là phần đẹp nhất của nhân loại, giống như bộ lông của con công và các thứ lông giữ ấm trên thân người. Roosevelt là người bị bại liệt, phải ngồi xe lăn, nhưng vì ông là Roosevelt nên ngồi xe lăn vẫn đẹp, ngồi xe lăn vẫn phong độ! Còn bố mình, cả đời không làm nên công trạng gì, cuối cùng lại cắt một kiểu tóc chẳng ra làm sao, sẽ bị người ta chê cười. Tại sao không suy xét vấn đề một cách thực sự cầu thị?

Nghe ớn cả lỗ tai, ông già liền đánh liều đi vào một hiệu làm đầu gần nhà. Buồn giận, ông nói với thợ làm đầu, cộc lốc: “Cạo trọc!”.
Cô thợ làm đầu đang độ thanh xuân hơn hớn, có vẻ như không nghe thấy lời ông, lại còn động viên ông:
- Tóc bác còn đen lắm, nhuộm một chút thuốc, hấp một chút dầu thơm, thưa bác!
… Thế là, không những ông Vương không húi đầu trọc, mà còn nhuộm đen tóc, hấp dầu thơm. Đầu bóng mặt phấn, ông bấm bụng rút ví chi trả những hơn một trăm tệ, rồi ra về. Lão Vương bảo vợ, ở đấy có cô thợ cắt tóc xinh, trẻ, y như diễn viên nổi tiếng Hồng Kông vậy.
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Người chuyên môn cười

Postby DIEU DUC » Tue Nov 07, 2017 12:50 am

Bí mật của người chết


(Nguyên tác: A Dead Secret)
Đặng Lệ Khánh chuyển ngữ


Lâu lắm rồi, ở tỉnh Tamba, có một thương gia giàu có tên là Inamuraya Gensuke. Ông có một người con gái tên là O-Sono. Cô vừa đẹp lại vừa thông minh vô cùng nên ông nghĩ nếu để cô ở lại tỉnh nhà học hành với mấy thầy giáo ở tỉnh thì uổng, vì vậy ông gởi cô lên Kyoto cùng với mấy người hầu cận đáng tin cậy để cô có thể được dạy dỗ, uốn nắn thành một phụ nữ quý phái vẹn toàn. Sau khi cô hoàn tất chương trình học, cô thành hôn với một người bạn của gia đình, một thương gia tên là Nagaraya. Cô sống hạnh phúc với chồng được gần bốn năm và họ có với nhau một con trai. Nhưng rồi O-Sono đột nhiên ngã bệnh và qua đời vào năm thứ tư sau khi cưới.

Vào tối hôm đám tang O-Sono, cậu con trai nói rằng Mẹ cậu trở về và đang ở trong căn phòng trên lầu, rằng Mẹ cậu mỉm cười với cậu nhưng không chịu nói gì cả, vì vậy cậu sợ quá, chạy mất. Mấy người trong nhà vội leo lên lầu chạy vào phòng của O-Sono, và giật mình khi thấy, dưới ánh sáng mờ của ngọn đèn dầu nhỏ thắp trên bàn thờ, hình dáng của người mẹ. Cô đang đứng trước cái tủ phấn, mấy hộc tủ lúc đó vẫn còn đựng nguyên nữ trang và những đồ tế nhuyễn của cô. Đầu và vai cô hiện ra rất rõ, nhưng từ bụng trở xuống thì nhạt dần không thấy được, giống như một cái bóng dở dang, trong suốt, phản chiếu qua mặt nước.
Mọi người sợ hãi lùi ra khỏi phòng. Xuống đến nhà dưới, họ lao xao bàn tán với nhau, và bà mẹ chồng của O-Sono nói : “ Đàn bà thường yêu quý đồ đạc nho nhỏ riêng tư của họ lắm, mà O-Sono lại càng không muốn rời đồ quý của nó. Chắc nó về ngắm chúng đó. Nhiều người chết rồi sẽ làm vậy, trừ khi mấy thứ đó đem để lên chùa. Nếu mình đưa hết áo quần đồ đạc riêng tư của nó lên chùa thì chắc linh hồn nó sẽ an nghỉ.”
Mọi người đồng ý rằng phải làm như thế càng sớm càng tốt. Thế là ngay sáng hôm sau, người ta đổ hết mọi thứ chứa trong mấy cái hộc tủ ra, nữ trang, quần áo, hết thảy mọi thứ, và đưa lên chùa. Nhưng tối ấy, O-Sono lại trở về đứng nhìn cái tủ, rồi đêm sau và đêm sau nữa, ngày nào cũng vậy, căn nhà trở thành nhà có ma, ai cũng sợ.
Bà mẹ chồng của O-Sono lên chùa, kể hết cho vị trụ trì chùa chuyện xảy ra và xin nhà sư giải giùm cho. Chùa này thuộc giáo phái Thiền. Vị trụ trì là một cao tăng, uyên áo, có pháp danh là Daigen Osho. Nhà sư bảo : “Chắc là phải có cái gì đó trong hoặc quanh cái tủ khiến cho cô ấy bận tâm.” Bà mẹ chồng trả lời :” Thưa Thầy, chúng con đã dọn sạch hết mấy cái hộc tủ rồi. Hiện giờ cái tủ trống trơn, chẳng có gì trong đó hết.” Nhà sư bảo : “Được rồi, tối nay tôi sẽ tới nhà và ở lại trong phòng ấy xem thử có làm gì được không. Nhưng Bà phải ra lệnh cho mọi người trong nhà là trừ khi tôi gọi, không ai được vào phòng lúc tôi đang ở đó nhé.”

Lúc mặt trời lặn xuống thì vị trụ trì Daigen Osho đến và vào trong căn phòng đã được sửa soạn sẵn cho ông. Ông ở trong đó một mình, tụng kinh, nhưng chẳng thấy có gì lạ xảy ra cả. Vào giờ Tý, chợt nhiên cái bóng của O-Sono hiện ra đứng ngay trước cái tủ phấn, mặt lộ vẻ khao khát buồn rầu, mắt đăm đăm nhìn vào cái tủ.
Nhà sư đọc thần chú, làm nghi thức theo trong kinh tạng rồi hướng về cái bóng của O-Sono nói :
“Thầy tới đây để giúp con. Có lẽ trong cái tủ có cái gì đó làm cho con bận lòng phải không? Để thầy tìm giùm vật ấy cho con nhé ?”
Đầu cái bóng cử động nhẹ như tỏ vẻ bằng lòng. Nhà sư đứng lên, đến gần cái tủ và mở cái hộc thứ nhất trên cùng. Hộc trống trơn. Ông tiếp tục mở hộc thứ hai, thứ ba, thứ tư, cẩn thận xem xét, lục soát cả trong lẫn đàng sau, phía dưới cái tủ, vẫn không thấy gì. Cái bóng vẫn đăm đăm nóng lòng nhìn vào cái tủ như trước, không thay đổi. Nhà sư suy nghĩ không biết cái bóng muốn gì. Chợt nhiên ông nảy ra ý rằng không chừng có gì đó nằm dưới lớp giấy lót hộc chăng. Ông lột lớp giấy lót trong cái hộc trên cùng, chẳng có gì, cả cái hộc thứ hai và thứ ba cũng không. Nhưng dưới lớp giấy lót của cái hộc tủ dưới cùng thì ông tìm ra được – một cái thư.
-“Có phải đây là cái thư làm con bận tâm không ?”
Cái bóng quay người về phía nhà sư, chăm chú nhìn bức thư.
-“Con có muốn thầy đốt nó cho con không ?”
Cái bóng cúi gập mình xuống trước vị sư già.
-“Thầy sẽ đốt nó cho con ngay sáng ra ở nhà chùa, và thầy hứa là sẽ không một ai được đọc nó, trừ thầy mà thôi.”
Cái bóng mỉm cười và rồi dần tan biến.

Bình minh vừa ló khi vị sư già bước xuống thang lầu và thấy cả nhà đang lo lắng đợi ở dưới. Ông trấn an :
-“ Đừng lo nữa. Cô ấy không trở lại nữa đâu.”
Và đúng vậy, cô chẳng bao giờ hiện ra nữa.

Bức thư đã được đốt. Đó là một bức thư tình được viết cho O-Sono lúc cô đang còn học ở Kyoto. Nhưng chỉ có một mình vị tăng biết nội dung của bức thư thôi, và cái bí mật ấy đã cùng theo ông xuống mồ.

Đặng Lệ Khánh dịch

http://www.sacred-texts.com/shi/kwaidan/kwai11.htm

DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times

Re: Người chuyên môn cười

Postby DIEU DUC » Wed Jan 31, 2018 11:50 pm

NHỮNG NGƯỜI BẠN


Nguyên tác : Gli amici
Của : Dino Buzzati (Ý)
Trương Văn Dân chuyển ngữ



Ông lão làm đàn luýt Amedeo Torti và bà vợ đang ngồi uống cà phê. Lúc đó bọn trẻ đã đi ngủ. Như lệ thường, hai người nhìn nhau yên lặng. Nhưng đột nhiên bà vợ nói :

"Tôi phải nói với ông một việc... Suốt ngày hôm nay tôi luôn có một cảm giác rất lạ... Như thể tối nay ông Appacher sẽ đến thăm chúng ta."

"Thôi, không có đùa về chuyện này đó nhé!" Ông chồng đáp lại bằng một thái độ cáu gắt. Bởi vì Toni Appacher, bạn thiết của ông và là nhà chế tạo đàn violon, đã chết hai mươi ngày trước đó.

"Em biết, em biết... là một điều ghê gớm " bà vợ nói " nhưng đó là một ý tưởng mà em không sao từ bỏ được."

"À, giá như..." Ông Torti lẩm bẩm với một sự mâu thuẫn mơ hồ nhưng không muốn đào sâu đề tài. Và ông lắc đầu.


Hai người im lặng. Lúc đó là mười giờ kém mười lăm. Một lát sau có tiếng chuông cửa. Tiếng chuông kéo dài, giục giã. Cả hai giật nẩy mình.

"Ai mà đến vào giờ này?" bà vợ lẩm bẩm.

Họ nghe có tiếng dép lết thếch của cô làm phòng Ines trong hành lang, tiếng mở cửa, rồi có tiếng thì thầm. Lát sau cô ta xuất hiện trong phòng khách; Mặt tái mét.

"Chuyện gì vậy Ines ?" Bà vợ hỏi

Cô làm phòng lấm lét nhìn ông chủ, giọng cà lăm: " Thưa ... mời ông ra... xem... ngoài đó...!"

"Mà ai? Ai vậy? " bà chủ hỏi bằng giọng giận dữ, dù đã biết chắc người ngoài đó là ai .

Cô Ines cúi gầm người xuống, như người ta thường làm khi thố lộ một bí mật. Lời lẽ của cô tuôn ra nhẹ như gió thổi: " Có... có ... ông chủ ơi, ra mà xem...Thầy Appacher đã trở lại!"

"Bậy!" Ông Torti giận dữ, cáu gắt trước thái độ bí ẩn của cô gái rồi quay sang bà vợ:"Để tôi ra... bà cứ ngồi đây ."

Ông bước ra, đụng phải cạnh tủ ngoài hành lang, rồi kéo mạnh cánh cửa mở ra phòng ngoài.

Nơi đây, có ông Appacher đang đứng, vẻ rụt rè. Đó không giống ông Appacher như lệ thường mà gầy gò hơn và hình thù thì không rõ nét. Đó là một bóng ma? Có lẽ chưa phải vậy. Có lẽ là ông ta chưa giải phóng hết những thứ mà loài người gọi là vật chất. Một con ma, nhưng còn một phần khá lớn thịt xương. Ông ta ăn mặc như thói quen ngày nào, bộ complet màu xám, áo chemise sọc xanh da trời và thắt cà vạt hai màu, đỏ và xanh nước biển. Ông đứng, vẻ bồn chồn, hai tay mân mê chiếc mũ lát rộng vành (xin hiểu cho: con ma quần áo, con ma cà vạt...vv)

Ông Torti không phải là người dễ bị ấn tượng. Ngược lại là khác. Thế nhưng ông ta đứng trân trân, như ngạt thở. Một người bạn tái xuất hiện trong nhà mình mà trước đó 20 ngày chính ông đã tiễn linh cửu của bạn ra nghĩa trang đâu có phải là một chuyện đùa.

"Amadeo !" gã Appacher miệng mỉm cười, khe khẽ gọi tên ông như để thăm dò.

"Anh ở đây à ? Ở đây à?" lão Torti gào lên như sỉ vả, bởi, từ những tình cảm trái ngược và xáo động trong lòng lão, chẳng hiểu sao, chỉ nẩy sinh một sự tức giận. Gặp lại người bạn cũ chẳng phải là niềm an ủi tuyệt vời sao? Lão Torti chẳng phải sẽ sẵn sàng trả tiền triệu để thực hiện được cuộc gặp mặt này sao? Vâng, đúng vậy, lão sẽ trả mà không cần nghĩ ngợi. Lão sẽ trả với bất cứ giá nào. Thế tại sao ngay lúc này lão không cảm nhận được niềm hạnh phúc đó? Tại sao lão chỉ thấy tức giận? Có lẽ là sau nỗi kinh hoàng, khóc lóc, nén mình vì lợi ích, lão chẳng muốn phải làm lại từ đầu? Hay là trong những ngày chôn cất, niềm xót thương cho bạn đã trút ra đến cạn kiệt và lúc này có lẽ chẳng còn gì nữa ?

"Vâng, tôi đây" gã Appacher trả lời, tay vẫn mân mê vành mũ lát. "Nhưng tôi... anh biết là giữa chúng ta, chẳng nên khách sáo ... có lẽ tôi làm phiền anh..."

"Làm phiền à? anh gọi là làm phiền à?" Lão Torti lớn giọng, vì cơn giận đang lôi cuốn lão. "Anh trở về từ nơi mà tôi chẳng cần biết là đâu, và... trong tình trạng này... thế mà anh gọi là làm phiền à! Can đảm quá vậy, ông bạn!"

Rồi lão Torti như nói một cách tuyệt vọng với chính mình: "Bây giờ thì tôi biết phải làm sao đây?".

"Nghe tôi nói nè, ông Torti... Ông đừng giận dữ... Đó đâu phải là lỗi ở tôi... Thế giới bên kia (gã phát một cử chỉ mơ hồ) lộn xộn quá.... Tóm lại là tôi phải ở lại bên này thêm một tháng nữa... Khoảng một tháng thôi chứ chẳng hơn đâu... và anh đã biết là căn nhà của tôi đã bị người khác chiếm giữ ..."

"Vậy thì sao? Bộ anh muốn nói là anh sẽ ở lại đây để ngủ à?"

"Ngủ hả? bây giờ thì tôi đâu có ngủ nữa... Không phải ngủ đâu anh... Tôi chỉ cần có một góc nhỏ... tôi hứa sẽ không làm phiền, tôi không ăn, không uống và không... nói trắng ra là tôi chẳng cần dùng toa lét... Anh biết không? Thực ra là để tránh phải đi suốt đêm, có khi đi dưới mưa."

"Nhưng mưa... làm anh ướt à?"

"Dĩ nhiên là không thể làm tôi ướt" gã khẽ cười "nhưng mà nó cũng làm tôi khó chịu lắm " "Vậy là anh muốn trú qua đêm ở đây?"

"Vâng, nếu anh cho phép..."

"Tôi cho phép anh!... Tôi không hiểu... Môt người thông minh, một người bạn cũ... Một người đã từng trải biết bao kinh nghiệm ở trường đời... làm thế nào mà không hiểu nhỉ? À, mà anh chưa bao giờ có một mái gia đình!".

Gã kia, bối rối, bước từng bước giật lùi về phía cửa. "Xin lỗi anh, tôi tưởng... Chỉ có một tháng thôi mà..."

"Vậy là anh chẳng muốn hiểu phải không?" Lão Torti làm như mình bị xúc phạm."Không phải vì tôi mà tôi bận tâm đâu... bọn trẻ con!... Chính là vì bọn trẻ con!... Bộ anh tưởng cho 2 đứa bé thơ ngây chưa đến mười tuổi trông thấy anh là chẳng có gì, sao? Đáng lý anh phải biết là tôi đang ở trong hoàn cảnh nào chứ. Xin lỗi anh nếu tôi quá thẳng thắn nhé, xem đây, anh là một con ma...v à nơi nào có những đứa con của tôi, tôi không thể để cho một con ma hiện diện, ông bạn thân yêu ạ..."

"Vậy là không được?"

"Ông bạn thân yêu ơi, tôi chẳng biết nói sao..." Lão Torti bỏ lửng câu nói. Gã Appacher đột nhiên biến mất. Lão Torti chỉ kịp nghe thấy tiếng chân chạy thật nhanh xuống cầu thang.


Sau buổi hoà tấu, ông Mario Tamburlani giám đốc nhạc viện trở về nhà lúc không giờ ba mươi phút. Đứng trước ngạch cửa của căn hộ nhà mình, vừa mới vặn một vòng trong ổ khoá thì nghe tiếng gọi khẽ đằng sau lưng mình: "Nhạc trưởng, Nhạc trưởng!". Giật mình quay lại, ông thấy Appacher.

Nhạc trưởng Tamburlani là một người được biết đến như một nhà ngoại giao giỏi, savoir faire (1), có khả năng ứng xử trong mọi tình huống ở đời. Người ta có thể xem đó là tài năng hay thủ thuật, nhưng chính nhờ nó mà ông ta đã leo đến đỉnh cao dù với tài năng khiêm tốn của mình . Trong tích tắc ông ta cân nhắc tình hình.

"Chào ông bạn yêu mến " Ông ta reo lên với một giọng thân tình và thống thiết rồi chìa tay cho bạn nhưng ý tứ dừng lại ở khoảng cách chừng một mét. "ôi bạn ơi, nếu anh biết là khoảng trống..."

"Cái gì, cái gì " gã kia hỏi lại vì thông thường các giác quan của ma rất ít nhạy bén." Xin lỗi ông, bây giờ tôi không còn nghe rõ như ngày xưa..."

"Ồ, tôi hiểu mà... Nhưng ông bạn cũng nên hiểu là tôi không thể nói lớn. Bà xã tôi, Alda, đang ngủ và..."

"Xin lỗi, ông có thể cho tôi vào một lát không? Tôi đã đi bộ rất nhiều giờ rồi..."

"Không, không được đâu. Con Blitz sẽ đánh hơi và biết ngay."

"Sao, ông nói sao?"

"Blitz, con chó lai sói của tôi ấy, ông biết nó mà... Nó sẽ sủa ầm lên và cả chung cư này sẽ bị đánh thức..."

"Vậy là... chỉ vài ngày mà cũng không được sao?"

"Ông đến ở với tôi hả? Ui chao, ông bạn Appacher ơi, Được chứ, được chứ... đối với một người thân thiết như ông... Nhưng, tha lỗi nhé, với một con chó như vậy chúng ta sẽ phải làm sao?"

Lý do bác bỏ làm gã Appacher sững sờ. Ông liền tìm cách khêu gợi tình cảm: "Nhạc trưởng, một tháng trước khi đọc điếu văn ở nghĩa trang ông đã khóc lóc thảm thiết trước khi người ta phủ đất. Ông còn nhớ chứ? Tôi đã nghe rất rõ tiếng nức nở của ông."

"Ông bạn ơi, xin ông đừng nhắc đến nữa... nó làm tôi ngạt thở (rồi ông ta đưa một bàn tay lên ngực)... Ôi chúa ơi, hình như con Blitz..."

Lúc đó, từ phía trong căn hộ có tiếng gầm gừ.

"Ông bạn... chờ một chút nhé... tôi vào trong một lát để dỗ cho con chó khó ưa này ngoan ngoãn. Ông bạn thân ơi... chỉ một lát thôi nhé."

Rồi nhanh như con lươn ông lách mình vào bên trong và đóng cửa, cài chốt cẩn thận. Sau đó, yên lặng.

Gã Appacher đợi vài phút. Lát sau gã gọi nhỏ "Nhạc trưởng Tamburlani, Nhạc trưởng Tamburlani". Nhưng phía trong không có tiếng đáp lời. Gã gõ nhẹ lên cánh cửa. Mà chỉ có sự yên lặng tuyệt đối.


Đêm nặng nề trôi qua. Lúc này gã Appacher định thử đến nhà Gianna, một cô gái dễ dãi và tốt bụng, mà lão đã từng ăn ngủ với cô nàng. Cô Gianna cư ngụ ở một căn hộ hai phòng trong một chung cư ở khá xa trung tâm thành phố. Khi gã đến thì đồng hồ đã chỉ ba giờ hơn. Cũng may là, cửa chính của toà nhà chỉ khép hờ, như vẫn thường xảy ra trong các khu chung cư đông đúc như tổ ong. Appacher mệt nhọc leo lên tầng năm. Lúc này gã đã mệt mỏi vì đi quá nhiều rồi.

Dù bên ngoài tối đen nhưng gã Appacher không mấy khó khăn tìm ra cửa vào căn hộ. Gã gõ nhè nhẹ. Gã phải đợi khá lâu mới nghe được tiếng động ở bên trong. Sau đó là giọng ngái ngủ của cô gái: "Ai vậy? Ai mà đến vào giờ này thế ?"

" Có một mình em hả? Mở cửa cho anh đi...Toni đây"

"Giờ này à? " nàng lập lại câu hỏi, tuy không vui lắm nhưng vẫn giữ vẻ chìu bạn như thường lệ "chờ đó... em ra ngay.". Gã Appacher nghe tiếng lê dép uể oải trên sàn nhà, tiếng bật công tắc điện rồi tiếng vặn chìa trong ổ khoá. Rồi, cửa mở, Gianna sắp sửa chạy về giường nằm, để mặc người đàn ông bổn phận đóng cửa, thì hình dáng của gã Appacher đã làm nàng giật mình. Nàng sững sờ nhìn gã một lát và từ trong cõi mù mờ ngái ngủ bỗng phát sinh một trí nhớ kinh hồn. " Mà anh... mà anh... mà anh...". Ý nàng muốn nói: mà anh đã chết, bây giờ tôi nhớ ra rồi. Nhưng không có can đảm. Nàng bước giật lùi, hai tay giang ra như sẵn sàng xô đẩy nếu anh có ý tiến đến gần nàng. "Mà anh... mà anh..." Sau đó nàng nói to, như hét. "Đi ra... làm ơn đi ra đi! " nàng van lơn, đôi mắt giương ra trong nỗi kinh hoàng.

"Anh van em, Gianna... Anh chỉ muốn nghỉ ngơi một chút thôi mà".

"Không, không, Đi ra, đi! Sao anh có thể nghĩ là... Anh làm em nổi điên rồi đó. Đi ra, đi. Bộ anh muốn đánh thức cả chung cư này hả?"

Rồi thấy gã Appacher không có ý nghe lời, cô gái, mắt vẫn không rời ông bạn quý, đưa tay sờ soạn tìm một cái gì trên một chiếc kệ nằm ở phía sau lưng mình. Và những ngón tay nàng rờ trúng chiếc kéo.

"Anh đi, anh đi mà" gã đàn ông lắp bắp… nhưng cô gái, bằng tất cả can đảm của sự tuyệt vọng, đã chỉa mũi kéo vào ngực gã; Hai mũi nhọn, không gặp phải trở ngại, xuyên thật ngọt vào bóng ma. "Ồ, Toni, tha lỗi, em không muốn thế " nàng giật mình nói thế, trong khi gã mỉm cười :

" Không, không... ui chao... nhột quá... anh van em... nhột quá ! " rồi gã bật cười như một thằng điên. Bên ngoài, tiếng cửa của căn hộ bị đấm lên thật mạnh. Rồi một giọng nói hét lên giận dữ: "Chuyện gì đây? Bây giờ là bốn giờ sáng. Chúa ơi, vừa vừa thôi chứ !". Gã Appacher vụt biến đi như một cơn gió.


Bây giờ thì thử đến nơi nào nữa? Đến cha xứ của nhà thờ thánh Calisto chăng? Phải rồi, đến với cha Raimondo, người bạn cũ từ thời học trung học, người đã đến ban phép và an ủi lúc gã còn nằm trên giường bệnh trước khi sắp về nước Chúa? Nhưng "Đi ra, đi ra... đồ quỉ " chính là sự chào đón của đức cha xứ ngay khi gã làm đàn violon xuất hiện.

"Con là Appacher đây, cha không nhận ra sao?... Đức cha Raimondo, xin ngài cho tôi nương náu ở đây với ngài. Lát nữa trời đã sáng rồi. Không có ai cho tôi tá túc cả. Tất cả bạn bè đều từ bỏ tôi. Ít ra là ngài..."

"Tôi đâu có biết ông là ai" đức cha xứ trả lời với giọng u sầu và trịnh trọng. "Anh có thể là ma quỷ hay có khi chỉ là một ảo giác, tôi không biết rõ. Nhưng nếu anh thật là Appacher thì, đây, anh cứ vào đi, đó là chiếc giường của tôi, anh cứ nằm xuống và nghỉ ngơi..."

"Cám ơn, con xin cảm ơn cha. Con biết thế nào..."

"Anh đừng quan tâm" ông cha xứ tiếp lời một cách êm ái "anh đừng bận tâm nếu tôi đang bị đức tổng giám mục nghi ngờ... Tôi xin anh đừng quan tâm, nếu sự hiện diện của anh ở nơi này có thể làm rối thêm tình thế, để nó thành nghiêm trọng hơn... Tóm lại là anh đừng quan tâm gì đến tôi. Nếu anh được phái đến nơi này để làm tôi sạt nghiệp thì xin xem đó là ý Chúa! Mà... anh làm gì vậy? anh bỏ đi à?"


Và chính vì những tình huống này mà loài ma- nếu có vài con ma bất hạnh buộc phải sống trên trái đất- chúng không muốn sống với chúng ta mà nó thường tìm đến những căn nhà bỏ hoang, giữa những phế tích tàn lụi của các ngôi tháp, giữa những nhà nguyện lẻ loi trên vách đá, hay trên những cụm đá cô đơn trên bờ biển mà sóng vỗ rì rào, rì rào rồi dần dần làm cho đổ nát.


Trương văn Dân dịch

(1) biết ứng xử (Nguyên văn bằng tiếng Pháp )
DIEU DUC
 
Posts: 9377
Images: 3013
Joined: Fri Jul 09, 2010 11:25 pm
Has thanked: 18170 times
Have thanks: 12235 times


Return to Truyện Ngắn

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest